ậu cũng không tồi, cũng biết đấu tranh cho người Trung Quốc chúng ta.” Sau đó Lâm Nhiên mới biết, người này chỉ học ở học viện âm nhạc chưa đầy một năm đã nghỉ, nguyên nhân thì Lâm Nhiên chưa được biết nhưng vì hai người nói chuyện rất hợp ý nên đã nhanh chóng trở thành bạn chi giao. Đề tài mỗi cuộc nói chuyện của họ xoay quanh đủ thứ trên trời dưới biển, từ chuyện phụ nữ Pháp ngực to đến chuyện phụ nữ Ý chân dài… họ bàn tán không chút kiêng kỵ, nhưng tuyệt nhiên không nói gì về âm nhạc. Có lúc nào đó Lâm Nhiên vô tình nhắc tới, Cảnh Mặc Trì đã ngay lập tức chuyển sang đề tài khác, không nửa lời bàn thêm.
Cho dù như vậy, Cảnh Mặc Trì vẫn giữ trong lòng ơn tri ngộ với Lâm Nhiên. Được Mặc Trì tiến cử nên sau khi tốt nghiệp, Lâm Nhiên đã ký được hợp đồng với công ty băng đĩa nhạc xuyên quốc gia rất có tiếng. Công ty này nổi tiếng về lĩnh vực sản xuất các ấn phẩm nhạc cổ điển, Cảnh Mặc Trì là ngôi sao lớn của họ, những đĩa nhạc của anh được họ phát hành có doanh số bán ra với con số rất lớn cả ở châu Âu và châu Mỹ. Mấy năm không gặp, Cảnh Mặc Trì giờ đã kết thúc cuộc sống độc thân, Diệp Sa vợ anh cũng từng là học viên ở Học viện âm nhạc Pari, có tiếng là “mỹ nhân băng” bởi sự kiêu sa đến lạnh lùng của cô. Cô học khoa sáng tác, phần lớn những bản nhạc anh chơi đều do cô viết. Hai vợ chồng Cảnh Mặc Trì cũng có thể xem như duyên cầm sắt. Chuyện này khiến Lâm Nhiên cảm thấy khá bất ngờ, vì trước khi cưới, Cảnh Mặc Trì dù thế nào cũng không ưng Diệp Sa, anh nói chỉ coi cô như em gái. Bố mẹ hai nhà vốn có quan hệ tốt. Bà Thẩm Sơ Liên, mẹ của Cản Mặc Trì lúc còn trẻ vốn là một nghệ sĩ piano tài ba. Diệp Sa từ nhỏ đã là học sinh của bà, thế nên Cảnh Mặc Trì và Diệp Sa giống như đôi bạn thanh mai trúc mã. Nhưng anh lúc nào cũng né tránh cô, thậm chí có lần hẹn gặp Lâm Nhiên mà chỉ cần biết có Diệp Sa đi cùng, chắc chắn anh sẽ để Lâm Nhiên leo cây. Hai người giống như đang chơi trò trốn tìm, còn Lâm Nhiên bị kẹp ở giữa, nhiều khi anh cảm thấy rất khó xử. Anh chưa từng nghĩ rằng Cảnh Mặc Trì sau nhiều lần do dự, cuối cùng vẫn chọn Diệp Sa. Lâm Nhiên không nhịn được cười, trêu anh: “Thế nào, tôi nói không sai mà, anh với Diệp Sa là có duyên vợ chồng.”
Vừa nghe thấy Lâm Nhiên nhắc tới Diệp Sa, Cảnh Mặc Trì đã thộn mặt xuống, bực bội: “Tôi không có gì để nói với cô ấy.”
Nói rồi lại nhấc đùi châm thuốc hút, con mắt hờ hững lướt trên mặt sông, “Anh cũng biết đấy, tuy rằng từ nhỏ đã ở bên nhau, cô ây là học trò của mẹ tôi, nhưng tôi vẫn chỉ coi cô ấy như em gái”.
“Bạn thanh mai trúc mã không tốt sao? Biết hết tính cách của nhau rồi, lựa chọn của anh không sai đâu…”
“Anh không cảm thấy rất nhạt nhẽo sao? Tình yêu là thứ lãng mạn nhất, cũng là lãnh địa đòi hỏi sự mới mẻ nhất. Từ nhỏ đã quen nhau rồi, đôi bên hiểu rõ nhau rồi, tương lai còn phải sống cả đời với nhau nữa thì còn lấy đâu ra mới mẻ với cả lãng mạn? Anh không thấy điều đó rất khủng khiếp sao?” Cảnh Mặc Trì nói, lộ rõ vẻ mặt chán ngán.
“Vậy anh cưới cô ấy làm gì?” Lâm Nhiên lập tức hỏi vặn lại.”
“Một lời khó nói lắm!” Cảnh Mặc Trì xua tay lia lịa, ý như không muốn nói thêm về việc này, còn về chuyện Lâm Nhiên mời anh về nước cùng biểu diễn, dĩ nhiên anh vui vẻ nhận lời. Hơn ai hết, bản thân anh cũng muốn trở về cố hương thăm lại quê nhà sau nhiều năm không về. Cảnh Mặc Trì vốn là người Thượng Hải.
“Đúng rồi, nhà cậu ở đâu nhỉ?” Cảnh Mặc Trì đột nhiên hỏi Lâm Nhiên.
“Ly Thành, một thành phố nhỏ, rất có tiếng ở Giang Nam.”
“Có nghe qua, cách Thượng Hải không xa lắm.”
***
Ly Thành mười ba năm trước không lớn như bây giờ. Từ xưa đây chính là nơi tụ hội của các dòng lái buôn lớn, đặc biệt sau khi cải cách mở cửa, phần lớn những Hoa kiều sống ở nước ngoài khi về đều quyết định đầu tư phát triển cơ nghiệp ở đây. Kinh tế phát triển nhanh chóng đã khiến Ly Thành được ví như một “Hồng Kông” của Giang Nam.
Thành phố tập trung nhiều Hoa kiều giàu có nên cuộc sống nơi đây mang dáng dấp phương Tây. Những gia đình có thế lực và danh vọng trong thành phố cũng thi nhau phô trương cách tân, chỉ sợ mình không giống Tây, không được tây như nhà khác.
Mẹ của Thư Mạn, bà Tần Hương Lan cũng nằm trong số đó. Bố cô – Thư Bá Tiêu lúc đó là hiệu trưởng của Đại học Sư phạm Ly Thành. Mẹ cô đường đường là phu nhân của ông hiệu trưởng, thấy bản thân mình Tây hóa cũng không có gì là lạ, còn nghĩ ngay cả con gái cũng phải học theo cái “Tây” ấy. Anh trai Thư Khang là con trưởng, rất trọng học hành nên không nhắc, em gái Thư Duệ lúc đó còn nhỏ tạm thời cũng không bàn, nhưng chị cô, Thư Tần với tướng mạo xuất chúng, trí tuệ hơn người đã nhanh chóng trở thành mục tiêu để mẹ cô chèo kèo bồi dưỡng “tây hóa” như mình. Nào là cầm kì thi họa, lễ nghi, ba lê, những thứ gì có thể học mẹ cô đều cho Thư Tần học hết một lượt. Nhưng thứ Thư Tần bộc lộ tài năng nhất lại là chơi đàn piano. Bốn tuổi bắt đầu học, bảy tuổi biểu diễn trên sân khấu, tám tuổi đoạt giải toàn quốc, mười một tuổi đã được đặt cách vào trường trung học trực thuộc Học viện âm nhạc, cô có đủ tư cách trở thành viên ngọc minh châu trong tay bố mẹ. Có lẽ vì ánh sáng của Thư Tần quá chói lòa, khiến anh trai Thư Khang và hai em gái Thư Mạn, Thư Duệ của mình trở nên mờ nhạt trong suốt một thời gian dài, đặc biệt là Thư Mạn.
Dĩ nhiên, Thư Mạn không xuất sắc cũng là có lý do. Chẳng hạn như cô không lớn lên ở thành phố. Khi cô bốn tuổi, vì sức khỏe yếu, lại lắm bệnh tật nên được chuyển về sống cùng bà ngoại dưới quê. Khi Thư Mạn thành niên, cô luôn băn khoăn tại sao bố mẹ lại đưa cô về đó, có lẽ bố mẹ khi ấy đã không có hy vọng gì về cô nữa. Ai bảo cô chưa đủ tháng đã ra đời, hơn nữa, vừa ra đời đã biết cười, làm các bác sĩ đỡ đẻ đều giật bắn người. Điều khó hiểu hơn, hai tuổi cô mới biết đi, gần ba tuổi mới biết trò chuyện, rồi sau đó cả ngày ngơ ngác khiến Thư Bá Tiêu vất vả suốt ngày phải bế cô chạy tới chạy lui trong bệnh viện, thậm chí nhiều lúc ông nghi ngờ đứa trẻ này có phải bị mắc bệnh thiểu năng không.
Vậy nên Thư Mạn đoán, bố ban đầu biết rõ sức khỏe cô không tốt nên đưa cô về quê có lẽ là vì sợ cô đúng là một đứa trẻ thiểu năng, ở thành phố sẽ ảnh hưởng tới hình ảnh gia đình. Thử nghĩ nhà họ Thư từ cuối đời Thanh cho đến đời bố cô sản sinh ra không biết bao nhiêu tài tử giai nhân, người nào cũng thành tựu lớn, có người vang danh cả bên nước ngoài, một gia tộc ưu tí như vậy sao có thể đẻ ra một kẻ đần độn được? Thư Bá Tiêu cho dù thế nào cũng không thừa nhận đó là do di truyền, một mực cho rằng Tần Hương Lan khi mang thai Thư Mạn đã lạm dụng quá nhiều thuốc bắc nên mới gây ra như thế. Tầm Hương Lan lúc đó trên người đúng là mọc nhiều nốt đỏ kỳ lạ, vừa đau vừa ngứa, dùng thuốc bôi nào cũng không chữa trị được. Thuốc tây tác dụng phụ lại lớn, bà đành mời một thầy lang kê đơn thuốc. Điều kỳ lạ là khi Thư Mạn vừa chào đời, những nốt đỏ trên người bà cũng tự nhiên hết hẳn, không cần phải uống thuốc hay tiêm nữa. Thế là Tần Hương Lan chốt lại một câu: “Đứa bé này mang cả độc đến theo!”
Một đứa trẻ như vậy dĩ nhiên chỉ xứng đáng được ở quê. Lúc chín tuổi, Thư Mạn được bố đón về thành phố. Đến nay cô vẫn nhớ ánh mắt của mẹ nhìn cô từ đầu đến chân khi cô vừa vào đến cửa. Ánh mắt đó biểu hiện sự thất vọng tột cùng, thậm chí bà nói ngay trước mặt cô, “Đứa trẻ như vậy làm sao dám dẫn ra đường?” May mà thượng đế phú cho cô vẻ đẹp xinh tươi, đôi mắt to sáng láy, làn da không mịn màng theo kiểu được đánh lên lớp phấn mà nhẵn mịn trắng hồng một cách tự nhiên, là da mà những đứa trẻ lớn lên trong thành phố như Thư Tần và Thư Duệ đều không thể có. Điều này cũng an ủi được mẹ cô phần nào, con gái chỉ cần xinh đẹp thì không lo không có tương lai. Ít nhất có thể đem gả cô cho một nhà tốt cũng là chuyện không quá khó. Chẳng hạn như bản thân mẹ cô, tuy rằng xuất thân bần hàn nhưng lại được gả vào nhà họ Thư, chẳng phải cũng đã hòa vào xã hội thượng lưu, thành phu nhân của hiệu trường Thư trường đại học Sư phạm Ly Thành sao?
Nói tới nhà họ Thư, ngay từ đời ông cố đã có tiếng là danh gia vọng tộc trong vùng. Ông của Thư Mạn hồi còn nhỏ cũng được qua Tây học, tới thời kỳ dân quốc lại đảm nhiệm qua nhiều chức vụ quang trọng trong chính phủ, làm kinh doanh nhiều năm. Nếu không phải sau khi chính phủ mới được thành lập, phần lớn tài sản đều bị sung công, quyên góp hay tặng đi thì nhà họ Thư cũng không chỉ có một tòa nhà nhỏ này. Nghe mẹ nói, lúc đó nửa con phố Đào Lý mà nhà họ Thư sống hiện nay đều là của ông nội. Cho tới bây giờ bác và hai chú của cô vẫn hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh chỉ có bố cô đi theo sự nghiệp giáo dục. Từ khi làm hiệu trưởng trường Sư phạm đến nay, học sinh của bố trải khắp cả nước. Chỉ duy nhất một điều khiến Thư Mạn không hiểu là, một gia đình hiển hách như vậy thì người mẹ xuất thân quê mùa của cô làm thế nào có thể được gả vào. Một lần hỏi đến chuyện này mẹ luôn ậm ừ cho qua, nhưng điều cô có thể chắc chắn là lúc đó bố mẹ đã được phép tự do yêu đương. Có lẽ vì ông nội đã từng du học bên Tây nên tư tưởng cũng thoáng hơn, không đòi hỏi khắt khe về việc môn đăng hộ đối. Thế nhưng, mẹ lại hay nói với các con gái mình rằng, là con gái, sự nghiệp giỏi giang không bằng làm vợ đảm đang. Dĩ nhiên, tiên đề trước đó phải có sắc đẹp trời cho. Quả thực, khi còn trẻ mẹ cô rất xinh đẹp, mẹ đủ tự tin để có được tình yêu thương của bố. Từ nhỏ đến lớn, Thư Mạn chưa từng thấy bố tức giận với mẹ lấy một lần. Mỗi lần sinh nhật hay những ngày kỷ niệm đặc biệt của hai người bố cô đều nhớ, còn tặng hoa cho mẹ. Hai vợ chồng già còn ân ái, tình cảm hơn là vợ chồng son. Hơn ba mươi năm sống trong cảnh an nhàn sung sướng, mẹ cô hoàn toàn thoát khỏi vẻ ngoài của cô gái thôn quê năm nào, từ cách ăn mặc, trang điểm hay ngôn từ cử chỉ đều là một mẫu quý bà quý phái hàng đầu trong thành phố.
Nhưng hi vọng của mẹ với cô cuối cùng cũng đã tan thành bọt ước, vì “cô ba” đúng là có nột không gột nổi lên hổ. Sáu năm, mẹ đã hao phí sáu năm ròng, chỉ mong cô trở thành đứa trẻ thành phố, thậm chí còn mời riêng thầy về dạy ứng xử cho cô, nhưng tất cả đều như muối bỏ bể. Cho dù sau đó trông cô đã phần nào da dáng trẻ thành thị, nhưng cũng chỉ là bề ngoài, chỉ cần để ý một chút, hàng tá thói quen xấu không thể sửa của cô lại lộ ra: ăn không có dáng, ngồi không thấy tướng, nhìn thế nào cũng giống một đứa trẻ hoang dại. Con em nhà họ Thư có ai không được nuôi dạy cực tốt, nhưng chỉ mỗi cô là không biết phép tắc, chẳng hạn khi đang ăn cơm bỗng nhiên cười sằng sặc, cơm trong miệng cứ thế tự nhiên phun hết ra ngoài…, khiến người mẹ bình sinh chưa từng biết hối hận là gì của cô cũng phải thốt lên bà có hai chuyện hối hận nhất cả đời, một là đã sinh ra cô, hai là đã để bố cô đưa cô về quê.
Nhưng với Thư Mạn mà nói, mẹ cô yêu cầu là một chuyện, cô làm hay không lại là chuyện khác, bản tính tự do thích làm theo ý mình của cô làm sao mẹ có thể dễ dàng thay đổi được. Thư Mạn chẳng quan tâm đến thứ gì, cả ngày chỉ tươi cười hớn hở vô ưu vô lo. Ngoài việc bà ngoại qua đời, kí ức về những năm tháng ấu thơ dường như không có chuyện gì khiến cô quá đau buồn. Bản tính cô không sợ trời cũng chẳng sợ đất, ngày đầu tiên đi học sau khi về thành phố, cô đánh nhau với bạn học, bị bố mẹ bạn học và thầy cô hỏi tội là chuy