Chị đỏ mặt, lấy hết can đảm: “Cùng lắm tôi làm việc cho anh. Trả hết phần nợ cuối cùng là được”.
Anh lại ngẳng lên chăm chú nhìn chị, một lúc sau chỉ nói đơn giản một chữ: “Được”.
Anh tưởng chị không biết món tiền đưa chị đi du học năm nào không phải của anh, mà là của chị Quy Vân. Thực ra chị đã biết từ lâu, chị có lỗi với Quy Vân, chị từng nghĩ không muốn học mà quay về, nhưng chị lại ích kỷ không muốn mất liên lạc với anh.
Chị tự nhủ, cho dù chị bỏ cuộc nhưng Quy Vân cũng đã trả giá rồi, làm sao để quay về trước kia?
Chị viện cớ vì tiền, có thể ngày ngày gặp anh.
Anh lại lấy cớ chị phải trả tiền mà giữ chị lại, chỉ vì có thể giữ được chút dính líu với Quy Vân.
Thời gian vội vã, không ai phá vỡ lớp giấy ngăn cách cuối cùng.
Quy mô của Giang Hoài ngày càng lớn, tổng bộ tập đoàn lại dời đến N.
Người cao ngạo như Nghiêm Tố, mong đợi đã bao năm, lại vì một sự cố mà hoàn toàn chôn giấu tình cảm trong lòng.
Chị và Quy Vân đã rời khỏi căn nhà đó gần mười hai năm, cách mười hai năm mà tên Hứa Nham Tùng ma quỷ đó vẫn tìm ra Quy Vân, cầm giấy kết hôn, chỉ vào người chồng lớn tuổi của Quy Vân mà nói rằng chị vẫn là vợ của hắn, ông lão già khụ họ Dương kia đã bắt cóc phụ nữ có chồng, hoặc đưa tiền cho Hứa Nham Tùng, hoặc bọn họ sẽ kiện.
Tờ giấy kết hôn đó không chỉ đánh gục Quy Vân mà cũng đả kích cả người chồng lớn tuổi mà chị muốn chăm sóc.
Quy Vân mất đi lý trí, cầm gạt tàn thuốc trên bàn nước đập lên người Hứa Nham Tùng.
Khi Nghiêm Tố và Giang Hoài Thâm chạy đến thì Hứa Nham Tùng vừa gục xuống đất, trán rách một đường dài, máu chả rất nhiều, còn ông Dương, chồng của Quy Vân tức giận ngất trên sofa.
Giang Hoài Thâm không nghĩ ngợi gì, lập tức gọi cấp cứu 120, sau đó bế Quy Vân đang run lẩy bẩy về phòng ngủ, đặt lên giường cho chị nằm thẳng. Anh lau nước mắt cẩn thận cho Quy Vân, không ngừng nói với chị rằng chị sẽ không sao, anh sẽ không để chị gặp bất kỳ chuyện gì.
Quay lại, anh nhặt gạt tàn thuốc lên, lau sạch dấu vân tay của Quy Vân, ra lệnh cho Nghiêm Tố tìm cách cầm máu cho Hứa Nham Tùng trước khi nhân viên cấp cứu đến.
Rất nhanh, Hứa Nham Tùng và ông Dương đã được khiêng đi.
Khi cảnh sát tới, Giang Hoài Thâm tự nhận là do anh gây ra.
Giang Hoài Thâm bị dẫn đi, Quy Vân như lên cơn điên, ra sức gào thét rằng không phải do anh, mà là do chị gây ra.
Giang Hoài Thâm không nói gì nhiều, chỉ cười nhẹ với Nghiêm Tố: “Chăm sóc tốt cho chị và bác nhé”.
Đó là nụ cười xúc động nhất nhưng cũng hèn kém nhất của anh mà chị từng thấy, là anh đang cầu cứu chị. Nước mắt dâng lên, chị gật đầu, nén nỗi đau như cắt trong lòng, chị ôm chặt lấy Quy Vân, không cho chị mình vùng thoát.
Hứa Nham Tùng may mắn nên vẫn còn sống, nhưng ông Dương thì không được như vậy, bệnh tìm tái phát, qua đời trong bệnh viện. Giang Hoài Thâm chịu tội thay cho Quy Vân, vói tội danh cố ý gây thương tích, bị phán tù sáu tháng.
Sau chuyện này Quy Vân không thể nhìn mặt người nhà họ Dương, lại nợ Giang Hoài Thâm quá nhiều, nên chị luôn rầu rầu buồn bã.
Mấy tháng sau Giang Hoài Thâm ra tù, Quy Vân bị một trận cảm nhẹ mà đột nhiên không gượng dậy nổi.
Dù Giang Hoài Thâm và Nghiêm Tố tốn bao nhiêu công sức, tiền bạc, nhưng Quy Vân đã mất đi ý chỉ sinh tồn. Khỉ chị sắp lìa đời, Giang Hoài Thâm luôn ở canh, chị dựa vào lòng anh, hai người thủ thỉ trò chuyện mãi.
“Thâm, Tố Tố và mẹ xin nhờ em.”
“Thâm, nếu có thể, nhất định phải giúp chị tìm lại Tiểu Lạc Thiên.” “Thâm, nếu vẫn còn kiếp sau, cho dù lớn hơn anh mười tuổi, em cũng sẽ không bao giờ bỏ lỡ anh.”
Ngón tay chị đan chặt vào ngón tay anh, sau đó nhắm mắt mãi mãi, không bao giờ mở ra nữa.
Nghiêm Tố đứng ngoài cửa phòng nãy giờ nghe thấy vẳng ra tiếng khóc xé lòng, chị đẩy manh cửa, lại thấy Giang Hoài Thâm ôm người chị Quy Vân đã ra đi, khóc rất thương tâm. Đó cũng là lần đầu tiên trong bao năm nay, chị thấy nước mắt của người đàn ông manh mẽ ấy.
Tình yêu của anh, vết thương của anh, bao gồm cả sinh mệnh của anh, anh đã trao tất cả cho Quy Vân.
Nước mắt lặng lẽ từng giọt từng giọt lăn theo gò má của chị rơi xuống đất, chị khóc cho sự ra đi của Quy Vân, cũng khóc cho mối tình si bao năm chưa từng nảy mầm đã chết của chính mình.
Nghiêm Tố uống cạn rượu vang trong ly, vừa đặt ly rượu rỗng xuống thì đồng hồ trên đình tòa lầu đối diện gõ những tiếng chuông báo giờ rền vang, chị nhìn ra ngoài, đã mười hai giờ đêm, sinh nhật ba mươi chín tuổi của chị đã qua.
Chị đứng lên, mỉn cười rời đi, ra ngoài vẫy một chiếc taxi, đến một tổ ấm khác của mình.
Ở đó, đã bao năm nay, là nơi chị luôn quen đến để chữa trị vết thương.
Ra khỏi taxi, chị lảo đảo bước vào thang máy.
Ra khỏi cửa thang máy, chị bất ngờ thấy ngoài cửa, người đàn ông đã bắt chị lặng lẽ rơi nước mắt gần hai mươi năm nay.
Giang Hoài Thâm dập tắt nửa điếu thuốc lá đang hút dở, đưa một bó hoa bách hơp trắng muốt cho chị, nói: “Tuy đã quá mười hai giờ, nhưng vẫn phải nói một tiếng, chúc mừng sinh nhật”.
“Ba mươi chín tuổi, ha, rất xứng đáng để chúc mừng ư? Hay là anh nghĩ nhắc nhở tôi lại già đi một tuổi là chuyện rất sảng khoái?”. Chị khẽ gạt bó hoa bách hợp ra, mò lấy chìa khóa định mở cửa nhưng chìa khóa cứ như đối đầu với chị, không cách nàot ra vào ổ khóa được.
“Em uống say rồi, để anh”, Giang Hoài Thâm đang định lấy chìa khóa thì bị chị gạt ra, bó hoa bách hợp rơi tuột xuống đất, một chiếc hộp nhung hình trái tim rơi ra, nhưng chị không nhìn thấy.
Chị quát lên với anh: “Giang Hoài Thâm, căn nhà này là do tôi mua, xin anh sau này đừng tự tiện đên nữa. Cút về địa bàn của anh mà lo đám cưới đi”.
Anh không giận mà cười.
Vì đã bao năm rồi, anh lại nhìn thấy cô bé mười mấy tuổi, suốt ngày thấy anh là mắng lưu manh thối tha.
Anh chậm rãi cúi xuống, nhặt chiếc hộp nhung và bó hoa bách hơp lên, đưa đến trước mặt chị: “Chẳng lẽ em muốn anh cử hành đám cưới một mình?”.
Chị đờ đẫn nhìn chiếc hộp hình trái tím màu đỏ rât đẹp ấy, trong tích tãc, nơi lông ngực dội rất manh.
Chị ngần ngại đón lấy chiếc hộp nhẫn ấy, mở ra, bên trong là chiếc nhẫn chị đã chọn lựa rất tì mi. Phải, cho dù là biết anh kết hôn với người khác, chọn nhẫn cho người khác, nhưng chị vẫn ích kỷ xem như đang chọn nhẫn cho mình, ngay cả độ to nhỏ của vòng nhẫn cũng chọn theo ngón áp út của chị.
Nước mắt không còn kiềm chế được, trào ra, chị giữ chặt cặp nhẫn ấy, khóc to.
Lời kết
Cảm khái vạn phần, trải qua bảy tháng trời, tôi đã rút cạn tâm huyết hoàn thành “Hướng về trái tim”.
Rất nhiều độc giả đều thấy thắc mắc, vi sao tôi lại lấy tên sách là Hướng về trái tìm1? ừ, tên sách này lấy từ bài hát tiếng Quảng Đông Xoáy nước do Hoàng Diệu Minh và Bành Linh song ca, tôi cảm thấy lời bài hát rất hợp với tình yêu của Giang Văn Khê và Lạc Thiên, trong đó có một câu rất thu hút tôi: Vạn vật trên đời, hướng về trái tìm.
Ban đầu khi cấu tứ tiểu thuyết này, nữ chính trong đầu là dạng thục nữ đáng yêu và hơi ngốc nghếch một chút, nhưng khi viết ra cứ cảm thấy cô nàng ấy hơi lệch so với suy nghĩ ban đầu, khiến tôi rất thấy chán và không có cảm xúc. Về sau bị mấy tác giả đả kích sự tôn nghiêm, nói rằng không thích thì bỏ đi, kết quả khiến tôi rất giận, dù sao cũng vất vả viết ra mấy vạn chữ rồi, bỏ thì đau quá. Thế là, tôi cố gắng phấn đấu, tôi không tin, truyện mà tôi càng không thích càng thấy chán thì sống chết gì tôi cũng phải xây dựng tình cảm, bồi đắp kịch tính cho nó. Kết quả cũng thấy rõ, tôi viết rất HIGH, khiến họ lại càng kỳ thị tôi.
Đọc xong truyện, có lẽ mọi người đều đặt câu hỏi có nên đi chữa trị chứng nhân cách phân liệt của Giang Văn Khê hay không, về câu hỏi này, tôi không nói rõ đâu, tôi không học Y, nên đối với loại bệnh dị thường này cũng không thể giải đáp được (độc giả: hừ hừ hừ, thực ra là lười biếng, không muốn nói chứ gì). Mỗi người đều có hai mặt, tôi nghĩ cũng như Giang Văn Khê, mặt mà bạn kìm nén sẽ thông qua một cách khác để giải tỏa, chỉ có điều là tôi viết hơi quá lên thôi, về sau không miêu tả kỹ bệnh đó nữa, xem như có tình yêu của Lạc Thiên rồi, sau khi đã có cảm giác an toàn thì tự nhiên cũng khá hơn, thế giới rộng lớn kỳ tích luôn có (để tôi lười đến cùng đi).
So với tốc độ trước kia thì truyện này đã có thể hoàn thành sớm hơn, nhưng đầu tháng Năm năm nay, cuộc đời tôi rơi vào thời kỳ tối tăm nhất, người mẹ thân yêu nhất trên đời của tôi bị phát hiện mang bệnh ung thư dạ dày giai đoạn cuối, trải qua hai tháng trời bị hành hạ kinh khủng, bà đã qua đời vào ngày 20 tháng 1, hưởng dương chi năm mươi lăm tuổi...
Từ khi biết mẹ bị ung thư giai đoạn cuối, tôi thật sự cảm thấy cả thế giới này như sụp đổ trước mắt. Có lẽ mọi người sẽ thắc mắc rằng tôi làm thế nào để hoàn thành được hơn hai mươi vạn chữ này trong tình trạng như thế. Ngẫm ra thì trên mặt tôi, cảm xúc hiện ra đầu tiên sẽ là cười, đương nhiên là cười khổ sở. Bởi vì quá căng thăng, tôi bât đăc dĩ phải dùng con chữ để giảm bớt áp lực cho mình.
Để chăm sóc mẹ, bắt buộc phải ở canh giường bà suốt đêm, không được ngủ, không nhớ rõ tôi đã cầm cự qua từng đêm dài dằng dặc như thế bằng cách nào. Khi giở quyển sổ nhật lý dày cộp ra, toàn là những con chữ chó gặm mà tôi viết tay cả.
Ở canh bên giường mẹ, dùng giấy bút ra sức viết Hướng về trải tìm, thực ra tôi mong muốn nhiều hơn là bà có thể gắng gượng đến lúc quyển sách này xuất bản, thế nhưng ước mơ này đối với tôi mà nói, là một khao khát mãi mãi không thể thực hiện.
Thượng đế không thể nào cho bạn cả một thiên đường, nên ông đã ban cho bạn một người mẹ, nhưng tại sao ông lại tàn nhẫn đưa mẹ của tôi đi? Tôi, tự cho rằng mình đã bị Thượng đế tạt nhựa đường đầy người, cuộc đời chưa bao giờ đen tối như thế, chi thấy địa ngục, không thấy thiên đường.
Kính tặng tác phẩm này cho người mẹ tôi yêu thương nhất, mong bà ở thế giới cực lạc sẽ không có đau khổ mà chỉ có hanh phúc.
Cảm ơn các bạn độc giả đã cổ vũ tôi bấy lâu, mong gia đình các bạn luôn hanh phúc, an khang, mong rằng tiểu thuyết của tôi sẽ có thể mang lại niềm vui cho mọi người.