- Tại hạ tìm người thân không được, còn phải đi kiếm việc lấy tiền hồi hương, không làm phiền ông nữa, cáo từ!
- Công tử chờ chút, công tử nói là muốn kiếm việc làm thêm?
Vĩnh Dạ thở dài, nói:
- Nói ra xấu hổ, tại hạ không phải vì mua tranh mà tới, chỉ là sở thích, đi qua Tế Cổ Trai bèn bước vào ngắm thôi. Được tận mắt thưởng thức họa tác của Trần đại gia đã là việc may mắn, không nghĩ gì khác. Đa tạ Lương ông.
- Tế Cổ Trai đang lúc cần dùng người, công tử ánh mắt tinh tường, chi bằng ở lại Tế Cổ Trai. – Lương ông nghe nói Vĩnh Dạ muốn đi tìm việc, chi bằng giữ lại, ông ta rất khâm phục nhãn lực của nàng, một nhân tài như thế đương nhiên không thể bỏ qua.
Vĩnh Dạ cả mừng, nàng vốn định tìm cớ gì đó để thường xuyên tới Tế Cổ Trai, không ngờ cơ hội lại tốt như thế, vội vàng vái lạy:
- Đa tạ đông ông[2].
- Ha ha, Lý công tử không cần đa lễ, lương tháng mười lượng thế nào.
Năm mươi lượng đủ cho một nhà ba người bình thường sống thoải mái được ba tháng, mười lượng là mức lương khá cao, đủ cho nàng và Nguyệt Phách sống khá rồi, nhân tiện còn có thể thực hiện kế họach báo thù kiếm tiền của nàng, làm gì có chuyện không đồng ý.
- Cậu chỉ cần tìm nơi khác để ở, ban ngày đi làm, buổi tối dọn tiệm xong về nhà. Ngày mai đi làm luôn được không?
Nàng biết gã tiểu nhị ngoài kia buộc phải ở lại trông tiệm, cũng chỉ dùng người thân tín. Một người ngoại địa làm thêm kiếm tiền về quê như nàng, họ sẽ không cho nàng ở trong tiệm đâu. Nàng vốn cũng không muốn ở đây, bèn lập tức đồng ý.
Ra khỏi tiệm đồ cổ, Vĩnh Dạ nở nụ cười gian xảo. Mua một đống đồ ăn và giấy vẽ, nguyên liệu, chuẩn bị bắt tay vào làm giả. Nàng ngắm suốt một tuần hương, cái nàng để ý nhất chính là ấn giám Thủy Bạc cư sĩ bằng chu văn.
Nàng nhìn đồ dùng trong tay, tươi cười ra về, nghĩ bụng Nguyệt Phách bán thảo dược, hôm nay đều có thu họach, buổi tốt nhất định phải chúc mừng phát tài mới được.
Ánh chiều tà như dát vàng, khiến con ngõ nhỏ trở nên ấm áp.
Ngọn đèn lồng lắc lư trong gió đêm, khiến tim Vĩnh Dạ hân hoan niềm vui.
Trước mặt nàng, một đôi vợ chồng già nắm tay nhau chầm chậm đi qua. Vĩnh Dạ nhìn sống lưng đã còng của họ, nghĩ sau này mình với Nguyệt Phách già rồi cũng sẽ nắm tay nhau đi như thế trong con ngõ nhỏ buổi hoàng hôn, khóe miệng nở nụ cười hạnh phúc.
Cưới chàng, hình như cũng không phải là khó khăn lắm, có lẽ dần dần quen rồi thì sẽ bình thường thôi. Vĩnh Dạ bồng dưng nhớ ra mình quên mua nữ trang, thầm kêu chết rồi. Đang định quay đầu lại mua thì thấy đôi vợ chồng già khi đi qua cửa y quán bèn dừng lại, ông già khom lưng nhìn vào trong một cái, rồi hai người mới đi tiếp.
Tiếng bước chân của Vĩnh Dạ rất khẽ, là do thói quen. Nàng có thể khẳng định rằng đôi vợ chồng đó không biết nàng đã vào ngõ. Trong mắt Vĩnh Dạ lóe lên một sự ngạc nhiên. Khi ông già nhìn vào cửa, bước chân theo quán tính nhẹ lại, nhẹ tới mức không giống của một lão nhân lớn tuổi.
Khi nàng đi qua y quán phát hiện Nguyệt Phách vẫn chưa quay về, lúc đi nàng đã khóa cửa. Vĩnh Dạ đặt đồ đạc trong tay xuống cửa, đi theo cặp vợ chồng già kia.
Ra khỏi ngõ, Vĩnh Dạ đề cao cảnh giác, từ đằng xa đã thấy họ bước vào một trạch viện. Nàng không nghĩ ngợi nhiều, nhón chân bay vọt vào trong.
Một đạo kiếm quang ập tới, Vĩnh Dạ nhanh nhẹn ra tay, nghe thấy một tiếng kêu thảm thiết, lăng không lật người, trên đầu nàng đột nhiên xuất hiện bóng một chiếc roi quất xuống. Trong viện tử vang lên tiếng quát nho nhỏ:
- Kẻ nào theo dõi ta!
Vĩnh Dạ nghiêng người né tránh, phi đao một lần nữa rời tay, tụ đao vẽ ra một đạo ánh sáng ép vào đối thủ. Lão bà bà cầm kiếm trúng đao ngã xuống, ngã giữa vũng máu, thở hổn hển. Nàng dồn lão nhân cầm roi:
- Ông là ai mà nghe thấy tiếng bước chân của ta?
Đối phương không trả lời, ánh mắt nhìn lão thái bà đầy vẻ lưu luyến và thương yêu, khi quay đầu lại nghiến răng nói:
- Tinh Hồn, người là Tinh Hồn!
- Sao ngươi biết?
- Ám khí của ngươi, Tiểu Lý Phi Đao, bách phát bách trúng!
- Ngươi là ai?
Lão ông bật cười:
- Chúng ta cùng một tòa nhà đi ra, ta là Nhật Quang, ngươi nhớ ra không? Ra khỏi ngõ không lâu thì ta đã cảm giác sau lưng có người. Khinh công của ngươi khá lắm, có điều ngươi cũng biết, cảm giác của thích khách thường khó nói lắm.
Nhật Quang? Cái tên này khiến Vĩnh Dạ giật mình, nhớ lại nhiều năm trước Lý Ngôn Niên ở trong lầu đặt tên cho năm thích khách. Cũng chỉ trong một khoảnh khắc lơ đãng ấy thôi, Nhật Quang đột nhiên ngửa ra sau chín mươi độ, hai chân đá vào Vĩnh Dạ.
Hành động của nàng còn nhanh hơn tưởng tượng của hắn, thân hình như bóng ma, lướt ra sau lưng hắn, tụ đao tì vào lưng hắn.
- Ngươi tới y quán đó làm gì? Có mục đích gì?
Nhật Quang giật mình, không ngờ công lực của Vĩnh Dạ lại cao hơn tưởng tượng của hắn rất nhiều.
- Đao của ta chỉ đặt trên xương sống của ngươi, ấn xuống sẽ cắt đứt xương sống, ngươi không chết được, nhưng cũng không bao giờ đứng thẳng được. Một thích khách chỉ có thể nằm trên giường thì có hậu quả gì?
- Ta không nói cho ngươi đâu, ngươi giết ta cũng được, ngươi biết đấy, ta mà nói cho ngươi thì càng đau khổ hơn là chết.
Vĩnh Dạ cười cười:
- Ta có mười tám thanh đao, phi đao của ta rất nhỏ, lại rất chuẩn, ả còn chưa chết, ta có thể một đao làm mù mắt ả, thêm một đao nữa làm mù mắt bên kia, nhân tiện lướt từng lưỡi đao qua mặt ả, ngươi có thể nhìn gương mặt xinh đẹp ấy trở thành một đống thịt bầy hầy máu với hai hố mắt trũng xuống, người thì không chết…
Lão thái bà nằm trên mặt đất vẫn trong bộ dạng sần sùi, nhưng khóe mắt lóe lên nỗi sợ hãi thực sự, đột nhiên giơ tay ra vỗ mạnh lên huyệt Thiên Linh. Bàn tay vừa mới cử động đã đau đớn run rẩy, mu bàn tay đã bị găm thêm một ngọn phi đao. - Ta ở sau lưng ngươi, có thể khiến ngươi không cảm thấy khi nào thì ta xuất đao. Trả lời câu hỏi của ta! – Vĩnh Dạ lạnh giọng. Trán Nhật Quang đã lấm tấm mồ hôi, ngây người nhìn lão thái bà nằm trên đất, khàn giọng:
- Ngươi chỉ lo cho Nguyệt Phách thôi đúng không? Hắn…
Trong nội viện bỗng dưng bị bao phủ bởi một làn khói tím, Vĩnh Dạ thầm than trời, mũi chân dùng lực, cả người đã bay chếch đi như tờ giấy. Khi quay đầu lại thấy thân thể Nhật Quang bắn vọt lên không trung như thể bị cái gì kích trúng, rồi ngã thẳng xuống, thích khách đóng vai bà lão đã cứng đơ nằm bất động.
Làn khói tím bay đi, trong sân còn lại hai thi thể.
Vĩnh Dạ mang theo tâm trạng nặng nề quay về y quán, giơ tay gỡ tấm biển của y quán xuống.
- Tinh Hồn, nàng đi đâu thế? Ta thấy đồ nàng để trước cửa. Nàng gỡ biển của y quán xuống làm gì? – Nguyệt Phách kinh ngạc nhìn nàng.
Vĩnh Dạ thở dài:
- Ta phát hiện có hai người đi qua thăm dò y quán, bèn đuổi theo giết chúng. Trong đó có một thích khách cùng ra khỏi lầu với chúng ta, tên Nhật Quang.
-S ao họ biết?
Vĩnh Dạ nghĩ ngợi rồi nói:
- Có khả năng là bọn chúng muốn tìm chàng, nghĩ rằng chàng biết dùng độc thì chắc chắn sẽ hành y, thế nên mới đặc biệt chú ý tới các y quán. Chúng ta chuyển tới nơi khác ở đi, ta có cách kiếm tiền rồi.
Nguyệt Phách nghĩ ngợi rồi nói:
- Ta đã sớm nghĩ tới ngày này, ta cũng đã thuê một nơi khác rồi.
- Không phải chứ? Chàng có mấy sào huyệt cơ à? – Vĩnh Dạ không ngờ Nguyệt Phách đã chuẩn bị từ trước, nhìn chàng nghi ngờ.
Nguyệt Phách cười cười, kéo nàng ra khỏi y quán, sang nhà bên cạnh. Bố cục y hệt, chỉ có điều cửa tiệm đóng suốt, không buôn bán làm ăn. Chàng đắc ý cười:
- Ở đây. Không ai ngờ là ở sát vách, đúng không? Sống ở đây thì không thể là Nguyệt lão được nữa, là Triệu đại thúc. Ông ta là một quái nhân, rất ít ra khỏi nhà. Ha ha, thường thì ta cứ ở khoảng mười ngày lại đóng giả Triệu đại thúc ra ngoài mua đồ.
Vĩnh Dạ không nhịn được cười:
- Triệu đại thẩm đâu?
- Bà bệnh tật nằm trên giường quanh năm, không thể thiếu người chăm sóc, thế nên Triệu đại thúc thường ở nhà chăm sóc bà.
- Triệu đại thúc sống bằng nghề gì?
- Nàng không thấy trước sân nhà ông treo giày cỏ sao? Triệu đại thúc cứ cách mười ngày lại xách giày cỏ đi bán, miễn cưỡng sống qua ngày.
Vĩnh Dạ nghiêm mặt:
- Tối nay Triệu đại thẩm tâm trạng rất tốt, bệnh cũng đỡ hơn, thế nên muốn ngồi trong sân uống rượu ăn thịt ngắm trăng!
Nguyệt Phách “ồ” một tiếng rồi đi tới cạnh nàng, thì thầm bên tai:
- Triệu đại thúc thấy Triệu đại thẩm khỏi bệnh nên muốn cùng nàng nghiên cứu làm thế nào để gan bàn chân không còn đóa hoa đó nữa…
Má Vĩnh Dạ lập tức đỏ bừng, dùng cùi chỏ thúc mạnh vào bụng Nguyệt Phách, nhảy tránh ra:
- Triệu đại thẩm hôm nay phải bắt đầu đại kế kiếm tiền báo thù! Ta mang điền hoàng ấn chương tới Đại Xương Hiệu cầm được có hai mươi lượng bạc, rồi lại tới Tế Cổ Trai làm thêm, chàng đi bán thảo dược cũng kiếm được không ít bạc, chúng ta sống ở Thánh Kinh một vài năm, có lẽ Thái tử Yến sẽ còn kiểm tra cổng thành tiếp đấy.
Nguyệt Phách nghe vậy nhíu mày nói:
- Tinh Hồn, nàng đừng đi làm thuê nữa. Ta bán thảo dược được năm mươi lượng, thêm vào hai mươi lượng cầm ấn chuơng, đủ chúng ta tiêu vài tháng rồi.
Vĩnh Dạ bĩu môi không chịu, nàng đang muốn báo thù, nhân tiện vào Tế Cổ Trai, làm gì có chuyện dễ dàng bỏ qua? Vả lại, cả ngày ở trong nhà cũng chán.
Nguyệt Phách thấy thái độ nàng kiên quyết thì thở dài, cười nói:
- Ra ngoài cẩn thận một chút, ta giúp nàng dịch dung.
Liên tiếp năm ngày liền, Vĩnh Dạ tới Tế Cổ Trai làm thêm. Nàng vừa làm việc, vừa thưởng thức tự họa của các danh nhân mà Tế Cổ Trai thu thập được, âm thầm ghi nhớ đặc điểm bút họa của từng người. Buổi tối ở nhà nàng lại khêu đèn thức đêm, mô phỏng họa tác.
Nửa tháng sau, ấn giám hoàn thành, nàng nhìn ấn giám của Thủy Bạc cư sĩ trên bức tranh, rồi lại nhìn ấn giám trong tay mình, không khác gì trong tranh, không khỏi vô cùng đắc ý.
Nguyệt Phách nhìn thấy cũng tấm tắc khen ngợi, ánh mắt nhìn Vĩnh Dạ thêm phần nghi hoặc:
- Nàng học từ lúc nào thế?
- Học mấy năm hồi ở Vương phủ. – Ký ức kiếp trước của Vĩnh Dạ là bí mật cá nhân của riêng nàng, đâu thể nói với Nguyệt Phách rằng kiếp trước nàng là một nam nhân?
Nguyệt Phách cười nói:
- Khi nào nàng cầm được tranh, xả được giận thì không được xuất đầu lộ diện nữa. Nghe rõ chưa?
- Mỗi lần nàng ra ngoài, ta lại lo lắng rằng nàng sẽ không về nữa.
- Sao ta lại không về? Chàng chờ ta, khi nào cầm được bức tranh này là ta sẽ không ra ngoài nữa, ở nhà dạy chàng làm giả tranh để chơi! Đúng rồi, chúng ta nuôi thêm vài con lợn được không? Như con lợn ngày trước ấy, vui lắm. Khi nào lợn lớn rồi, cổng thành có lẽ cũng đã thoáng hơn, chúng ta sẽ rời đi.
- Được. – Nguyệt Phách chưa bao giờ từ chối yêu cầu nào của nàng.
Vĩnh Dạ cẩn thận cuộn tranh lại, rồi bỏ ra năm lượng bạc để mua một cái hộp bằng gỗ đàn mộc được chạm khắc rất tinh xảo, hào hứng chạy tới Đại Xương Hiệu. Nàng kiêu ngạo đặt hộp gỗ đàn mộc lên quầy:
- Cầm chết một nghìn lượng, tại hạ đang cần bạc để xoay vốn!
Tên quản gia đã sớm quên viên đá điền hoàng thượng hạng trị giá hàng trăm lượng mà lần trước chỉ mất có hai mươi lượng