ng cô sẽ tìm một ngôi làng nhỏ có sông có suối, mua vài mẫu đất, học nghề dệt vải như những người đàn bà khác, tự nuôi sống mình mà không phải giết người.
Thời cơ đó đến rất nhanh.
Mùa đông tháng mười hai, vào ngày giỗ của Tâm Liễu phu nhân, mẫu thân tiểu công chúa, Oanh Ca dẫn công chúa lên linh sơn thắp hương tế bái, Dung Viên phái một toán cấm vệ quân đi theo. Chiếc kiệu đi đến lưng chừng núi bất thần gặp một toán thích khách không biết từ đâu ra, mặc dù được cấm vệ quân bảo vệ chu đáo, nhưng sơ sẩy vẫn khó lường, lại thêm thế núi hiểm trở, Oanh Ca ôm công chúa ngã lăn xuống núi.
Thực ra theo ý Oanh Ca không nên đem theo công chúa, nhưng không có cách nào khác, tất cả xảy ra quá nhanh, cô còn chưa kịp chớp đúng thời cơ, chuẩn bị chủ động lăn xuống núi, đã thấy Hy Hòa công chúa ôm con thỏ lăn xuống trước, nếu cô không cứu công chúa sẽ chết, làm mẹ kế hai tháng cô cũng không đành lòng.
Rơi thẳng từ sườn núi xuống, tay ôm đứa trẻ, thân thủ tốt đến mấy cũng không dễ làm gì để giảm nhẹ hậu quả. Nhưng may núi cũng không quá cao, trong khi lăn xuống cô đã cố một tay ôm công chúa, tay kia cởi thắt lưng quăng móc vào thân cây để làm chậm đà rơi, vì vậy khi tiếp đất chỉ có xương bàn chân phải bị gẫy. Tiểu công chúa nằm trên người cô, tay vẫn ôm chặt con thỏ con bị thương hai tháng trước, công chúa không bị thương, chỉ sợ quá ngất đi.
Dưới chân núi bóng đêm đặc dần, cô chống người bò dậy, bế công chúa vào một cái hang gần đó, đốt lửa, làm thịt con thỏ, xiên cành cây nướng vàng ươm, xong xuôi bóc hết xương, chỉ còn thịt nạc để trên chiếc lá to đặt cạnh công chúa.
Rừng núi đêm đông, chim náu trong tổ, mọi sinh vật sống đều đã ngủ, tiếc là giờ cô đã bị què chân, cho dù tứ chi vẹn toàn, trong cảnh ngộ thế này cũng khó tìm cái ăn, may khi ngã công chúa vẫn ôm con thỏ, như vậy cho dù cô bỏ đi, thị vệ của Dung Viên cũng chưa thể tìm được cô ngay, có chỗ thịt thỏ nướng, tiểu công chúa sẽ không bị đói, chắc chắn sáng ngày mai họ sẽ tìm thấy công chúa.
Khi lê được cái chân đau ra ngoài, Oanh Ca kiếm một cành cây to làm gậy chống, hình dung ra bộ dạng của mình, cô bất giác bật cười.
Nhưng chưa được hai bước nụ cười đã đông cứng trong mắt.
Phía trước, bên một cái đầm bốc khói mù mịt, đột nhiên hiện ra một bóng người như từ trên trời rơi xuống, áo chùng gấm màu bạc lóe sáng. Mấy con chim trên ngọn cây chí chóe cãi nhau, nửa vầng trăng ló khỏi đám mây, tỏa ánh sáng trắng mờ lạnh lẽo, xung quanh không có chỗ nào có thể trốn, cô nắm chặt cái gậy, mắt tối sầm, trân trân nhìn Dung Viên khoác ánh trăng bước đến. Ủng mềm đạp trên cành lá khô, chàng dừng trước mặt cô cách hai bước, ống tay áo dính đất và vụn cỏ, nét mặt tư lự, dáng thanh tao, khuôn mặt đẹp của chàng dưới ánh trăng như dát bạc, đôi mắt đen trầm tư lướt qua cái gậy trong tay cô, lướt qua bàn chân đau của cô: “Sao lại ra nông nỗi này?”.
Cô ngẩng đầu, mắt lại nhìn về đầm nước bốc khói: “Hy Hòa không sao, chỉ bị kinh động vẫn đang ngủ, thiếp đi ra…”. Cô dừng lại: “… kiếm nước cho công chúa”.
Chàng nhìn cô không nói.
Cô ngây người, gượng cười: “Chân thiếp… cũng không sao…”.
Đôi mắt đen bỗng lóe lên giận dữ, vừa trở tay đã ép cô vào vách núi bên cạnh, bàn chân gãy bị kéo đi đột ngột, đau xói đến tận óc, nhưng Oanh Ca chỉ nghiến chặt răng, hơi cau mày.
Chàng khóa cô giữa hai cánh tay mình, “Đau không?”.
Cô cắn môi không đáp, chỉ có làn hơi lạnh lọt qua kẽ răng. Mắt chàng tối lại, bỗng giơ tay giật dải lụa buộc trên búi tóc, nhét vào miệng cô, mái tóc xõa xuống, chàng cúi đầu, hai tay nắm chặt bàn chân gẫy của cô: “Nếu đau cứ kêu lên”.
Một tiếng “rắc” nhẹ, chỗ xương gãy bị chệch đã được kéo về đúng vị trí, trán cô toát mồ hôi, cơn đau từ chỗ xương gẫy như làn sóng lập tức lan ra toàn thân, đau ứa nước mắt, nhưng cô cắn môi không để bật ra tiếng rên, nộ khí trong mắt chàng càng tăng, nhìn cô đăm đăm: “Ai dạy nàng như thế, chân gẫy cũng không nói, đau mấy cũng cố chịu?”.
Cô ngây người nhìn chàng.
Chàng cau mày đón nhận ánh mắt đó, ngón tay đưa lên chạm vào đuôi mắt cô, nét mặt dịu dần, lại trở về là một Dung Viên thâm trầm, mắt cô vừa chớp, long lanh ngấn nước, cô vội ngẩng đầu.
Chàng giữ chặt đầu cô không cho động đậy, cứ vậy nhìn thẳng vào đôi mắt ngấn nước của cô, nhìn giọt nước lăn ra từ khóe mắt, áp trán vào trán cô, nhẹ nhàng nói: “Cẩm Tước, hãy khóc đi”.
Tiếng khóc khi đã bật ra không thể kìm lại, sụt sùi, sau đó bật thành tiếng, nức nở, đau đớn, có lẽ Oanh Ca cũng không biết tại sao mình khóc, nhưng ít nhất cũng khiến chúng tôi hiểu, thì ra các cô gái trên đời không có ai sinh ra đã không biết khóc.
Chàng ôm chặt cô, dưới ánh trăng, bên mặt đầm khói phủ, giọng trầm trầm: “Được rồi, có ta ở đây”.
Oanh Ca khóc to như vậy, tôi nghĩ nguyên nhân một nửa là do khó khăn lắm mới tìm được cơ hội bỏ trốn, cuối cùng lại bị Dung Viên phá hỏng, niềm tiếc nuối cần được xả ra, khi tôi nói suy nghĩ đó với Mộ Ngôn, chàng phán một câu: “A Phất, cô là người rất thực tế”.
Chung quy tôi là người làm ăn, mặc dù tự biết vẫn là người đa sầu đa cảm. Nhưng khi thần trí bất tương thông, tôi hầu như không hiểu được suy nghĩ của Oanh Ca, đây là một cô gái rất thực tế, có ý thức cảnh giác cao nhất mà tôi từng gặp.
Bởi vì đây là giấc mơ của Oanh Ca trong lúc hôn mê, không phải là ảo mộng tôi dệt cho cô, đành chỉ có thể nhìn mọi cảnh trôi qua như là xem đèn kéo quân mà thôi, không thể tác động vào. Không biết sau lần ngã xuống núi đó tình cảm giữa Dung Viên và cô có gì tiến triển, điều đó quả khó phán đoán, nhưng dường như những gì cần tiến triển đều đã tiến triển hết. Bởi vì đêm đó, sau khi được kiệu đưa về Trịnh cung, Oanh Ca không ở điện Chiêu Ninh nữa, mà chuyển đến điện Thanh Lương, tẩm cung của Dung Viên.
Tẩm cung của Trịnh hầu vương Dung Viên có tên là Thanh Lương, bày trí trong cung rất trang nhã, đơn giản, cạnh giá nến cao có một chiếc bình gốm cắm hai cành anh đào trắng khô héo, giữa tiết đông hàn trông càng lạnh lẽo cô liêu. Vết thương ở chân Oanh Ca được các ngự y trong cung chăm sóc chu đáo, nhưng do bị giày vò lâu, vừa vào đến giường đã mệt mỏi nhắm mắt ngả đầu xuống gối. Hầu nữ thắp thêm nến, Dung Viên đầu tựa thành giường, tay cầm cuốn sách, vẻ bồn chồn, cả hai đều im lặng.
Tôi cảm thấy chẳng có gì đáng xem, định kéo Mộ Ngôn đi ngắm sao, chưa kịp nắm ống tay áo Mộ Ngôn, đã nhìn thấy Dung Viên vừa giở sách vừa ngẩng nhìn Oanh Ca, rồi lại cúi xuống trang sách, giọng nhẹ nhàng: “Nằm lui lại đây”.
Mộ Ngôn nghiêng đầu nhìn tôi, tôi dừng bước. Oanh Ca lặng lẽ trở người, mắt vẫn nhắm, tấm chăn hơi phồng lên, có vẻ như thu hẹp khoảng cách giữa hai người, thực tế chỉ là thay đổi tư thế nằm, Dung Viên ngẩng đầu khỏi trang sách, cau mày đắn đo một hồi, lại cúi đầu đọc tiếp: “Ta sợ lạnh, lại gần hơn chút nữa”.
Lần này Oanh Ca không nhúc nhích, chắc là giả bộ ngủ. Thực tế đã nằm cùng một giường giả bộ ngủ hay không cũng thế. Quả nhiên, lát sau Oanh Ca bị Dung Viên kéo vào lòng. Cô hơi giãy giụa trong lòng chàng, điều này chỉ đoán ra thông qua chuyển động của tấm chăn, tiếng cọ xát của xiêm y và lời nói của Dung Viên.
Trong ánh nến hồng mờ ảo, giọng Dung Viên trầm lạnh vang lên: “Sao khó bảo thế, đã nói rồi, ta sợ lạnh”. Giọng Oanh Ca: “Bảo người đi lấy thêm…”. Lát sau, nghe thấy giọng Dung Viên vui vẻ, rõ ràng đang đùa nhưng nghiêm túc như một mệnh lệnh: “Nằm yên nào”.
Đàn ông muốn ngủ cùng phụ nữ là một chuyện, nhưng đắp chung chăn với phụ nữ thuần túy chỉ để nói chuyện lại là chuyện khác, từ đó có thể thấy Dung Viên là một minh quân, đương nhiên, nếu người khác phủ định tôi cũng chẳng nói gì. Nhưng tôi nghĩ, một người đàn ông có thể chuyện trò chia sẻ, lắng nghe ý kiến của người đàn bà của mình nhất định là người đàn ông tốt, huống hồ người đàn ông đó lại là bậc quân vương.
Ngày hôm sau khi Oanh Ca thức dậy, nắng ấm tỏa trên cao. Ngoài cửa sổ có tiếng chim hót vang, ánh mặt trời hắt qua cửa sổ chạm hoa văn, chiếu lên chăn lụa óng ánh như dát vàng. Chân Oanh Ca vẫn đau, đang mơ màng ngơ ngẩn.
Vừa ra khỏi cung đã xảy ra chuyện lớn ngã xuống núi, là một người chồng có trách nhiệm, trong thời gian sau đó đương nhiên không nên để vợ ra khỏi cửa. Nhưng tư duy của những đệ nhất không thể dùng đạo lý thông thường để suy đoán, cho dù là đệ nhất gọt táo, đệ nhất cắn hạt dưa, huống hồ Dung Viên lại là Trịnh quốc đệ nhất đao thủ.
Chỉ nửa tháng, vết thương của Oanh Ca đã lành hẳn, ban đêm Dung Viên đến điện Chiêu Ninh, ánh mắt dừng lại trên bàn chân nhỏ đã khỏi hẳn dưới gấu váy tím, lát sau chàng nói: “Vào cung đã ba tháng, chắc nàng buồn lắm, ngày mai quả nhân sẽ đưa nàng đi loanh quanh”.
Có lẽ đi loanh quanh mà Dung Viên nói chỉ là đi dạo trong vương cung, thật sự được đưa ra đường phố của thành Tứ Phương, vốn điềm tĩnh như Oanh Ca cũng nhất thời cơ hồ không dám tin. Còn tôi và Mộ Ngôn chỉ cảm thấy sự phồn hoa của phố phường kinh đô Trịnh quốc cũng chẳng khác hiện tại bao nhiêu.
Quý công tử dung sắc lạnh nhạt, nghiêng đầu hỏi tân nương mới cưới ba tháng: “Muốn đi đâu?”.
Cả người Oanh Ca bọc kín trong chiếc áo dài mền bông dày, bên ngoài còn khoác thêm áo choàng gió bằng lụa tím viền lông cáo, dưới vành mũ lộ ra đôi mắt lóng lánh tuyệt đẹp: “Nếu bệ hạ để thần thiếp lựa chọn…”, nghĩ một lát, nói “… thiếp muốn đến Bích Phù lầu”.
Dung Viên hơi ngước mắt, vẻ ngạc nhiên, nhưng chỉ thoáng qua, rồi giơ tay phẩy chiếc lá vàng rơi trên mũ của cô.
Dung Viên ngạc nhiên là có nguyên do, bởi vì Bích Phù lầu mặc dù nghe tên rất phong nhã, giống như nơi bán hoa sen, nhưng thực tế là sòng bạc nổi tiếng ở thành Tứ Phương.
Thường xuyên có khách lân quốc vượt ngàn dặm đến đây đánh bạc, chuyện này vốn là phi pháp, nhưng khách láng giềng nhàn rỗi đến chơi, vô tình thúc đẩy du lịch địa phương phát triển, đây quả là vấn đề gay cấn.
Tông pháp tổ tiên vốn quý, nhưng nếu cản trở kiếm tiền thì cũng nên bỏ. Triều đình suy tính sao cho vẹn toàn cả hai, vậy là quyết định đưa đánh bạc trở thành một nghề. Các sòng bạc lớn nhỏ được chính quyền cổ vũ ra sức cạnh tranh tàn sát, ba năm sau chỉ còn lại Bích Phù lầu lớn nhất, ông chủ sòng những tưởng một mình làm vua một cõi, ai ngờ bị cưỡng chế bán cho nhà nước với giá gốc.
Có lẽ tôi hiểu tại sao Oanh Ca muốn đến Bích Phù lầu, khi còn là sát thủ của Dung gia, Dung Tầm chủ trương các sát thủ phải tu thân dưỡng tính, không kiêu ngạo, không nóng nảy, không mù quáng tham lam, đánh bạc là tham lam, hơn nữa đối tượng ám sát không ai mê cờ bạc, khiến Oanh Ca hai mươi năm sống trong chốn bụi hồng, chưa bao giờ bước chân đến sòng bạc, nơi hội tụ những người giàu tham vọng của thế gian.
Nhìn thân hình ung dung chậm bước phía trước, tôi nén không nổi hỏi Mộ Ngôn: “Dung Viên cũng biết Oanh Ca đã khỏe hẳn, mà vẫn cho cô ta mặc nhiều như vậy, bó chặt như cái bánh chưng, nếu có thích khách, làm sao ra tay? Hay là muốn cô ta lăn một vòng đè chết thích khách?”.
Mộ Ngôn dừng bước, nhưng không phản bác như mọi lần, trái lại có vẻ suy nghĩ nghiêm túc: “Đàn ông đa phần như vậy, người con gái mình yêu dù mạnh mẽ đến mấy cũng vẫn là nhi nữ, không muốn để nàng chịu khổ hay lâm vào cảnh đáng sợ, phải tận mắt nhìn thấy nàng sống sung sướng đủ đầy mới yên tâm”.
Trong ngực có gì nảy lên, tôi nhìn sang bên: “Huynh nghĩ như vậy, cô gái nào sau này lấy được huyn