vọng trong suốt thời gian đó, dốc hết sức để chăm sóc ba tôi. Ông chịu dày vò thêm 25 ngày, cuối cùng cũng bỏ chúng tôi mà đi. Thật ra, rủi ro lúc phẫu thuật rất cao, chúng tôi biết rõ việc đó. Nhưng sau khi lo đám tang xong, chúng tôi vẫn chưa thể tin ba tôi lại ra đi nhanh như vậy.
Mùa hè năm đó, cây cối mướt xanh, nắng hè đổ lửa. Rồi bỗng nhiên... chỉ còn lại mình tôi và Tiểu Đông giữa cõi đời này.
"Chị, bây giờ mình thành trẻ mồ côi rồi, phải không?" Tiểu Đông hỏi tôi.
"Còn chị và em mà! May mà năm đó mẹ vỡ kế hoạch sinh em ra."
Em tôi là sinh ra do vỡ kế hoạch, ba tôi không muốn mẹ tôi phá thai. Vì vậy mà ba tôi mất đi cơ hội thăng tiến ở trường, còn phải tốn rất nhiều tiền để xin cho em tôi vào hộ khẩu. Chúng tôi tìm được mấy sổ tiết kiệm trong ngăn kéo của ba tôi, tổng cộng được 20 ngàn tệ. Số tiền này có lẽ là toàn bộ tiền tiết kiệm của gia đình tôi. Chúng tôi dùng số tiền này để chọn một miếng đất đẹp cho ba tôi.
Kỳ nghỉ hè khá dài, Tiểu Đông chỉ lại nhà nửa tháng rồi về trường. Tôi cảm thấy sức cùng lực kiệt, nên vẫn ở lại Ca Cựu, để lên dây cót tinh thần đối phó với cuộc sống mới. Tháng 7 năm đó, bạn bè trung học hẹn tôi tới trường liên hoan, rồi đi thăm thầy cô. Tôi không vui vẻ gì mấy, nên cố gắng từ chối, bạn bè cứ khuyên tôi: "Người khác không đi cũng không sao, nhưng cậu được điểm cao nhất khối mà không đi, thầy Hùng sẽ buồn lắm."
Đành vậy, chạng vạng tối, tôi đạp xe đến cổng trường trung học Nam Trì. Dì Trương bảo vệ biết tôi, biết em trai tôi, càng biết ba tôi. Ba tôi vốn là giáo viên ở trường trung học Nam Trì, do sinh vượt kế hoạch nên bị giáng chức, bị chuyển sang trường trung học cấp thấp hơn ở thị trấn nhỏ. Dì Trương giơ tay ngoắc tôi ra "Tiểu Thu, nghỉ hè về đây chơi hả?"
"Dạ, họp lớp."
"Nghe nói thầy Tạ..." Dì sờ mặt tôi "Haiz, người đang sống sờ sờ ra đó, sao nói đi là đi."
Dì Trương không nhắc thì thôi, vừa nhắc tới ba, nước mắt tôi liền trào ra. Tôi cúi đầu, nước mắt rơi xuống mặt đất.
"Haiz, tại dì không tốt, khi không nhắc lại chuyện buồn làm chi không biết." Dì kéo tay tôi, nhét vào tay tôi một trái táo.
Một lát sau, bỗng nhiên dì Trương nói: "Đúng rồi, mấy năm trước, có một người tới trường tìm con, dì có cho cậu ta địa chỉ nhà con, cậu ta có tìm được con không?"
Tay tôi run run, hỏi: "Ai tìm con? Dì còn nhớ người đó như thế nào không?"
"Sao không nhớ được. Cậu thanh niên đó rất đẹp trai, vừa tới trường là mấy cô giáo trẻ mê ngay. Tuy nhiên, chân cậu ta có tật sao đó, đi hơi cà nhắc."
Tôi cố gắng bình tĩnh, hỏi tiếp: "Dì còn nhớ lúc đó là khi nào không?"
"Ừm, khoảng ba năm trước, trước Tết, lúc đó trường nghỉ đông rồi. Cậu ta hỏi có chỗ nào bán đồ lưu niệm của trường Nam Trì không. Dì nói, cậu tưởng đây là Cố Cung ở Bắc Kinh hả, đồ lưu niệm cái gì. Chỉ có một tiệm văn phòng phẩm ở cổng thôi, bán mấy thứ tập, viết linh tinh. Sau đó, cậu ta còn hỏi dì, đường trước cổng trường có phải tên Tây Môn không?
Đúng là không nên kể chuyện buồn với người đang buồn, nước mắt tôi tuôn ra như suối.
Thì ra, Lịch Xuyên đã từng đến đây, quê tôi.
"Cậu ta hỏi dì có biết con không? Dì nói, sao không biết được. Cả nhà con, có ai dì không biết. Tiểu Thu từ lúc học tiểu học đã quậy, thường xuyên bị cô giáo phạt đứng. Không ngờ học càng ngày càng giỏi, trở thành trạng nguyên ở đây." Dì Trương cứ tưởng tôi vẫn buồn chuyện ba tôi, nên lái sang chuyện vui vẻ.
Tôi lau nước mắt, cười với dì: "Anh ấy là bạn con, từ Bắc Kinh tới chơi."
"Chắc nghe mấy chuyện dì kể làm cậu ấy vui. Lúc đó, cháu nội dì đang bò trên sàn, cậu ấy cho nó 300 tệ, nói là để mua kẹo cho nó ăn." Bởi vậy, dì vẫn còn nhớ rõ Lịch Xuyên.
Đoạn đối thoại bất ngờ này làm sống dậy bao tâm tư trong lòng tôi. Tối đó, suốt buổi liên hoan, tôi không nói câu nào. Chỉ biết uống rượu, uống say mèm. Lúc tỉnh lại, tôi phát hiện mình đang ngủ trên một bãi nôn mửa. Lịch Xuyên bỏ tôi, đã ba năm rồi. Sao tôi vẫn nhớ anh. Sao tôi còn gửi thư cho anh, kẻ sáng mắt đều biết là do tôi cố chấp. Tôi đúng là vừa khờ vừa ngu, hết thuốc chữa rồi.
Muốn yêu một người, không có cơ hội; muốn hận một người, không có lí do.
Muốn chạy trốn, không có chỗ trốn; muốn sa đoạ, không có can đảm.
Không ngờ tôi vẫn là sinh viên giỏi.
Sau khi ba tôi qua đời, thể xác và tinh thần tôi đều suy sụp, suốt ba tháng trời tôi không viết thư cho Lịch Xuyên. Về lại trường, kiềm chế không được, tôi lại ra tiệm net. Trong hộp thư vẫn báo con số 0. Do đó tôi lại viết một email ngắn: "Hi Lịch Xuyên. Ba em mất rồi. Em mượn anh 250 ngàn để làm phẫu thuật cho ba. Khi nào đi làm, em trả lại anh liền. Có lẽ từ lâu anh không sử dụng hộp mail này nữa. Nhưng em vẫn muốn nói, cảm ơn anh đã giúp đỡ em vào những lúc khó khăn thế này. Em rất cảm kích. Tiểu Thu."
Vào một ngày cuối tuần sau khi gửi lá thư đó, tôi nhận được một cuộc điện thoại của giáo viên hướng dẫn - Giáo sư Phùng. Ông nói có một lá thứ gởi cho tôi, ngoài bìa thư ghi địa chỉ là "Văn phòng khoa Ngữ Văn Anh Đại học Sư Phạm S", do đó, thư được chuyển về văn phòng khoa. Thầy biết tôi, nên nhận thay. Thầy hỏi tôi khi nào có thể tới văn phòng của thầy lấy thư.
Tôi hơi sợ gặp thầy Phùng, nguyên nhân là do ông đặc biệt thích tôi. Nhiều lần ám chỉ tôi nên học lên tiến sĩ, ông sẽ hướng dẫn tiếp. Nhưng tôi đã chán học, nên tính thầm nhanh nhanh lấy xong bằng thạc sĩ, tốt nghiệp rồi tìm việc làm.
Lịch Xuyên có thể nói tiếng Trung rất lưu loát, cũng biết rất nhiều chữ Hán. Nhưng anh nói, thật ra anh không biết viết chữ Hán lắm, vì ông nội anh dạy viết chữ phồn thể, anh ghét chữ phồn thể quá nhiều nét, quá phức tạp, không chịu học. Cho nên, tôi chưa bao giờ thấy anh viết chữ Hán. Quả nhiên, ngoài bì thư được viết chữ phồn thể, chữ viết không đẹp lắm, may mà đủ nét, lớn nhỏ vừa phải, cho nên cũng không quá khó đọc.
Tuy ngoài phong bì không ghi địa chỉ gửi, nhưng tem là tem Thuỵ Sĩ. Tôi ôm hy vọng tràn đầy mở thư, thấy bên trong có một tấm thiệp khá đẹp, thoảng mùi hoa oải hương, nền thiệp màu tím nhạt, ở giữa có một bó hoa huệ tây trắng muốt. Không có chữ nào, không có ký tên. Không có gì hết.
Như vậy, tất cả email của tôi, anh đều nhận được.
Tôi cầm tấm thiệp, lòng chùng xuống. Cô thư ký văn phòng khoa cười hỏi: "Tiểu Thu, em có sưu tập tem không? Em có lấy con tem này không?"
Tôi còn đắm chìm trong suy tư: "Hả, gì ạ? Tem?"
"Đúng vậy. Con cô sưu tập tem. Con nít chưa hiểu chuyện, chỉ thích đồ ngoại thôi."
"Nè, cho cô, em không sưu tập tem." Tôi đưa phong bì cho cô.
"Haiz, trong đây còn có thiệp nè, thơm quá, em không lấy hả?"
"Dạ không." Tôi cười cười "Nếu cô thích, cứ tặng cho bé luôn đi."
Hôm đó, tôi đến một tiệm bán nữ trang. Bấm năm lỗ tai trên tai mình, cộng thêm hai lỗ đã có sẵn, tổng cộng bảy lỗ. Bên trái ba lỗ, bên phải bốn lỗ. Thằng nhóc bấm tai cho tôi nói: "Haiz, tự nhiên từ hoa khôi lại trở thành gái nhảy." Sau đó tôi đến một tiệm khác, bấm thêm một khuyên tai ở rốn.
Tôi bỏ hết toàn bộ quần áo cũ, mua một đống tất lưới dài. Sáng nào ngủ dậy tôi cũng trang điểm cả tiếng đồng hồ, chỉ sử dụng màu mắt tím và đen, vẽ mắt sâu không thấy đáy. Ngày nào tôi cũng mặc áo khoác da hoặc áo gile, lộ ra khuyên tai nhỏ ở rốn, cảm thấy bản thân rất gợi cảm. Tôi thích váy may bằng vải thật dày, càng hở hang càng tốt. Tôi bắt đầu hút thuốc, ngày càng nghiện nặng hơn, cuối tuần tôi đi quán bar uống rượu, thường hay uống đến khi say mèm. Những người đàn ông dìu tôi hay nhân cơ hội sờ soạng người tôi, tôi cười cười, cợt nhả với họ, chẳng là gì cả.
Kể từ khi nhận được "thiệp an ủi" của Lịch Xuyên, tôi không viết thêm một lá thư nào cho anh nữa.
Hai năm sau, nhờ thành tích xuất sắc, tôi tốt nghiệp thạc sĩ trước thời hạn một năm. Giáo viên hướng dẫn nhìn tôi, vẻ mặt tiếc hận.
Tôi gởi hồ sơ xin việc cho năm công ty dịch thuật. Cả năm công ty đều mời tôi đến phỏng vấn.
Đương nhiên, tôi chọn công ty lớn nhất, phúc lợi tốt nhất, nổi tiếng nhất thành phố Bắc Kinh: Công ty dịch thuật Cửu Thông.