tay áo lau mặt cho anh: “Không có việc gì để làm hay sao mà anh lại lôi hạt tiêu ra ngửi?”
Mặc Trì xoa xoa mũi, nói với giọng ấm ức: “Đó là hạt tiêu à? Chẳng phải em đang cần đường trắng sao?”
Tư Tồn giơ lọ hạt tiêu lên: “Nhưng cái này với đường trắng có liên quan gì tới nhau không hả đồng chí Mặc Trì?”
“Đường trắng không phải cũng màu trắng sao?”, Mặc Trì ngớ ngẩn hỏi.
Tư Tồn dở khóc dở cười: “Thiếu gia Mặc Trì, anh đúng là công tử đấy, đến đường với hạt tiêu cũng không phân biệt nổi”.
Mặc Trì gãi đầu: “Anh thấy nó tương tự nhau, đều màu trắng, làm sao mà phân biệt được?”
Tư Tồn cầm lên một bình khác: “Khó đến thế sao? Thế anh đã bao giờ nhầm nước tương với dấm chưa?”
Mặc Trì ngượng nghịu: “Đương nhiên dấm có vị chua”.
“Ý anh là phải nếm thử mới biết được sao?”
Mặc Trì bỗng nhiên tự tin, trả lời đầy khẳng khái: “Không nếm thử làm sao phân biệt được?”
Tư Tồn lườm Mặc Trì một cái rồi đẩy anh ra khỏi phòng bếp: “Thôi, mời thiếu gia ra ngoài, đừng ở đây làm vướng chân em nữa!”
Mặc Trì cười tít mắt, thong thả ra phòng khách ngồi, vểnh tai lên nghe ngóng động tĩnh trong bếp. Trong bếp, nồi niêu xoong chảo như đang tấu nhạc vậy. Các loại gia vị như gừng, tỏi, hành cũng phụ họa cùng, chẳng bao lâu sau, hương thơm đã lan ra tận phòng khách.
Cũng với từng ấy nguyên liệu, nhưng cách chế biến của Tư Tồn hoàn toàn khác với cô giúp việc. Cô giúp việc thích làm món tôm xào rau cần, còn Tư Tồn chỉ xào chay. Cô giúp việc thường làm tôm hùm sốt cà chua, còn Tư Tồn lại biến tấu thành món cà chua xào trứng.
“Bữa cơm hôm nay có cá, có rau, có cả canh nữa”. Tư Tồn nhanh nhẹn bày bát đũa ra, cuối cùng bưng ra món cá kho làm theo phương pháp nấu cà tím. Mặc Trì tiến lại bàn ăn, lén nhón một miếng rau lên miệng.
“Không được ăn vụng! Đợi mẹ về rồi cùng ăn!”, Tư Tồn nghiêm mặt nói với Mặc Trì.
Mặc Trì vừa chóp chép nhai vừa nói: “Có người muốn lấy lòng mẹ chồng, không thèm để ý gì đến chồng kìa”.
Tư Tồn xấu hổ dựa vào vai Mặc Trì, cười cầu hòa: “Đây là lần đầu tiên em nấu cơm cho gia đình, đương nhiên phải đợi mẹ về cùng ăn rồi, nhưng em không để anh bị thiệt đâu”. Cô lấy ra hai quả trứng luộc còn nóng hôi hổi đưa cho anh: “Anh ăn lót dạ trước nhé!”
“Thế còn tạm được”. Mặc Trì vẻ hí hửng như trẻ thơ, cười sung sướng rồi tiện tay lấy nạng đập vỏ trứng, bóc xong liền dúi vào miệng cô một quả.
Kì nghỉ đông chẳng mấy chốc đã tới. Tư Tồn không phải đến trường, cả ngày chỉ quanh quẩn trong nhà cùng Mặc Trì, lúc thì luyện thư pháp trong thư phòng, khi lại cầm cuốn Sổ tay nấu ăn để nghiên cứu món mới. Những món rau cô làm thường được Trần Ái Hoa khen ngợi. Bà bảo, cứ ăn rau đơn giản thế này là dễ chịu nhất. Đó là lần đầu tiên Trần Ái Hoa khen ngợi con dâu. Tư Tồn được khen mà trong lòng vẫn không khỏi phập phồng lo lắng. Mặc Trì thì đương nhiên không ngớt lời tán thưởng món ăn vợ nấu, lần nào cũng phát huy quá khả năng, mỗi bữa đều ăn hết hai bát cơm đầy. Tư Tồn vui ra mặt, cô tự nhủ sẽ “luyện tay nghề” nấu ăn ngon hơn nữa, quyết tâm biến Mặc Trì thành chàng béo dễ thương.
Tịnh Nhiên mới từ Bắc Kinh trở về. Ba người trẻ lại túm tụm với nhau, ai nấy mặt mày đều vui vẻ, rạng rỡ. Tư Tồn vồn vã hỏi Tịnh Nhiên muôn ăn gì nhưng Tịnh Nhiên chỉ cười đáp: “Chị dâu tốt của em, chị càng ngày càng đảm đang đấy! Nhưng không cần phải thế đâu, em chỉ ở nhà bảy ngày, đến mùng Hai Tết em phải đi rồi”.
“Sao em chỉ ở nhà có bảy ngày? Nhà trường cho nghỉ những hơn hai mươi ngày cơ mà.”, Tư Tồn ngạc nhiên hỏi lại.
Tịnh Nhiên bỗng nhiên đỏ mặt, cúi đầu nói: “Mùng Ba em phải đi dự sinh nhật bạn học”.
Mặc Trì lờ mờ đoán ra, hẳn em gái mình đã có bạn trai. Anh liền kéo cô em lại và bắt đầu màn thẩm vấn: “Mau thành thật khai báo, có phải em có người yêu rồi không?”
Tịnh Nhiên ngượng ngùng quay mặt đi, tảng lờ câu hỏi của anh trai. Hành động này chẳng khác nào nói cho Mặc Trì biết rằng, suy đoán của anh là đúng. Anh mỉm cười nhìn Tịnh Nhiên. Tư Tồn vui tới mức phấn khích, nhảy lên và hét to: “Thích quá, Tịnh Nhiên có người yêu rồi!”
Tịnh Nhiên quay đầu lại, cười ngượng nghịu: “Nhìn anh chị hạnh phúc như vậy ai mà chẳng ghen tị, em đương nhiên cũng muốn có người yêu. Nhưng mà anh chị đừng nói với ba mẹ vội. Trước ngày em đi học đại học ba mẹ đã dặn dò, chưa tốt nghiệp thì chưa được yêu đương...”.
Tư Tồn nghe thế vội vàng im lặng, đặt ngón tay trỏ lên môi ra vẻ phải giữ bí mật. Cô rón rén hỏi Tịnh Nhiên: “Thế anh chàng kia là người như thế nào? Được Tịnh Nhiên nhà ta để mắt tới chắc phải là người xuất sắc lắm!”
Tịnh Nhiên cười đáp: “Anh ấy mời anh chị tới Bắc Kinh chơi. Bao giờ anh chị tới sẽ được gặp mặt”.
Mặc Trì vui ra mặt, vừa cười vừa đáp: “Được, nhất định là như thế! ”
Tư Tồn nghe thế lại thêm phần sung sướng tới mức nhảy cẫng lên, bởi từ bé tới giờ, cô chưa từng đặt chân tới Bắc Kinh!
Sau Tết Nguyên Đán, Tư Tồn bước sang năm cuối đại học. Họ chưa đến được Bắc Kinh vì Tư Tồn còn bận đi thực tập.
Đơn vị cô đến thực tập là tòa soạn báo Hoa sơn văn học của thành phố X. Nơi này chỉ cách Cục Dân chính có một con phố, Tư Tồn cảm thây rất hài lòng bởi hằng ngày cô được cùng Mặc Trì đi làm. Mặc Trì mất hai mươi phút để đưa cô tới cổng tòa soạn, sau đó anh phải đi qua một con phố nữa mới đến cơ quan của mình.
Buổi trưa, Mặc Trì và Tư Tồn đều không về nhà ăn cơm. Cục Dân chính có bếp ăn chung cho nhân viên, mọi người có thể ăn uống cùng đồng nghiệp ngay tại đây. Nơi này còn đặc biệt chào đón những đôi vợ chồng cùng là công chức. Vừa tới bữa trưa, cả người lớn. và trẻ con đều ào tới nhà ăn. Họ giữ chỗ, gọi cơm, khuôn mặt ai nấy đều vui vẻ. Trước đây, Mặc Trì thường nhờ Trương Vệ Binh mua giúp bánh bao hay thứ gì đố về văn phòng ăn cho xong bữa. Nhưng từ khi Tư Tồn thực tập ở tòa soạn báo gần đó, anh muốn cô đến đây cùng ăn trưa với mình, nhân thể để cô có thể lựa chọn đồ ăn cho ngon miệng hơn.
Nhà ăn ở đây to như một lễ đường, với những món ăn thường ngày như rau xào, canh miến, thịt hầm cà rốt, đậu phụ rán, bánh bao nhân rau... Trong nhà ăn, từng dãy bàn ghế được sắp xếp gọn gàng ngay ngắn. Ai mua cơm xong có thể tùy ý ngồi vào chỗ còn trống. Mặc Trì chiếm hai chỗ, còn Tư Tồn xếp hàng đi mua thức ăn. Đồ ăn ở nhà ăn đương nhiên không thể so sánh được như ở nhà họ Mặc, cũng may cả hai đều không quá kén ăn, chỉ cần được dùng bữa cùng nhau là đã cảm thây ngon miệng rồi. Có lần, Trương Vệ Binh bảo Mặc Trì tới nhà ăn nhỏ dành riêng cho các công chức cấp Sở trỏ lên, Thị trưởng Mặc và Trần Ái Hoa đều tới đó dùng bữa, nhưng Mặc Trì lắc đầu từ chối: “Tôi không phải nhân viên cấp Sở, ăn ở nhà ăn chung đã tốt lắm rồi”.
Mỗi buổi chiều, Mặc Trì tan ca sớm hơn Tư Tồn nửa tiếng đồng hồ. Anh chống nạng, thong thả chậm bước tới tòa soạn rồi đứng đợi cô trước cổng lớn. Tiết xuân mỗi lúc một nồng đậm, trong lúc đứng đợi, Mặc Trì ngắm nhìn phong cảnh, cảm nhận thời tiết dần trở nên ấm áp, cành cây khẳng khiu cũng bắt đầu đâm chồi nảy lộc, mặt đất trở nên tươi xốp, hoa cỏ đua nhau bung ra. Đợi tới khi Tư Tồn ra đến cửa, Mặc Trì nở một nụ cười, nhìn cô chào tạm biệt đồng nghiệp rồi tung tăng chạy về phía anh.
Trong buổi chiều tối tháng Tư ấy, trong làn gió xuân thoang thoảng, họ sánh bước bên nhau, chậm rãi về nhà, trong lòng một cảm giác thư thái dễ chịu lan tỏa.
Mặc Trì mới nhận được một tin tốt. Lãnh đạo của Cục Dân chính đã tìm anh nói chuyện. Trưởng ban Mã của nhóm anh sắp về hưu, Phó ban sắp được thăng chức làm Trưởng ban, do đó sẽ trống vị trí Phó ban. Mặc Trì mấy năm gần đây làm việc rất cần mẫn, lại đạt nhiều kết quả xuất sắc nên Cục dự định đặc cách đề bạt anh lên làm Phó ban.
Biết tin này, Tư Tồn vui mừng còn hơn cả anh: “Thế thì tốt quá, mấy hôm trước Chủ biên của em còn bảo, trước đây chưa từng có Phó ban nào dưới ba mươi tuổi cả”.
“Thế nhưng khả năng anh đắc cử không cao đâu”, Mặc Trì cười đáp.
“Sao lại thế? Vì anh còn trẻ tuổi sao?”, Tư Tồn băn khoăn hỏi. Cô biết mấy năm nay Mặc Trì đã nỗ lực rất nhiều trong công việc, cũng biết anh đã giúp đỡ được không ít người.
Mặc Trì ngập ngừng, nói vẻ chua chát: “Không phải. Thành phố mình chưa từng xuất hiện Phó ban một chân”.
Lòng Tư Tồn bỗng trĩu buồn. Cô nắm lấy cánh tay anh mà không biết nên an ủi anh thế nào. Mặc Trì kéo tay cô lại, cười nói: “Không có gì phải buồn cả. Có trở thành Phó ban hay không, anh vẫn sẽ hoàn thành tốt công việc của mình”.
Tư Tồn liên tiếp gật đầu: “Em cũng sẽ cố gắng làm một biên tập viên giỏi!”
Hôm đó, Tư Tồn gặp Chủ biên Ngưu Vũ ở chân cầu thang tòa soạn, ông nói: “Tiểu Chung, một lúc nữa hãy tới phòng làm việc của tôi”. Năm nay Ngưu Vũ ngoài bốn mươi tuổi, do hoàn cảnh xuất thân nên đã chịu đủ sự hành hạ trong thời kì Cách mạng Văn hóa. Bây giờ, cuối cùng, ông cũng có thể lên được vị trí thích hợp để phát huy tài hoa của bản thân. Khả năng làm việc của ông không kém gì những thanh niên như Tư Tồn.
Tư Tồn mới đến đây thực tập được hơn một tháng, lúc nào cũng e dè lo sợ, đi theo chạy việc cho biên tập viên chính. Công việc hằng ngày của cô là bóc thư tín, gửi lại bản thảo nhưng chưa từng có cơ hội nói chuyện với Chủ biên. Tim cô đập thình thịch khi nghe Ngưu Vũ nói thế. Chủ biên tìm cô có việc gì nhỉ? Có khi nào cô đã đắc tội gì mà không biết? Trước khi bước vào đợt thực tập, giáo viên có nói với cô, nhất định phải trân trọng cơ hội thực tập lần này vì đánh giá của đơn vị thực tập sẽ ảnh hưởng tới việc phân công công tác sau này.
Tư Tồn đi vào phòng Chủ biên với tâm trạng bất an. Ngưu Vũ đang cầm trên tay một bình trà sứ lớn. Tư Tồn lặng lẽ ngồi xuống đối diện ông, hồi hộp đợi Ngưu Vũ mở lời.
Ngưu Vũ chuyển cho cô một trang báo, chỉ vào một bài văn: “Cô đã từng đọc tiểu thuyết này chưa?”
Tư Tồn nhìn chăm chú. Đây là tiểu thuyết mang tên Vết thương được đăng tải trên “Nhật báo thành phố X”. Cô đã đọc nó từ ba năm trước. Từ lúc vết thương xuất hiện, văn đàn Trung Hoa đã nổi lên một dòng văn học mới, được gọi với cái tên là “Văn học vết thương”. Những sinh viên Khoa Trung văn như cô đã đọc một lượng lớn tác phẩm thuộc dòng văn học này, từ Lớp trưởng, Linh hồn và thể xác, Góc khuất bị tình yêu lãng quên cho đến Trạm cuối của đoàn xe lửa, từ đó viết bài thu hoạch cũng như phê phán những tác phẩm quá đà.
“Tiểu thuyết này đăng tải lần đầu tiên năm 1978 trên tờ “Văn hội báo” của Thượng Hải, đến nay đã được ba năm rồi”, Tư Tồn bình tĩnh trả lời.
“Hiện nay, dòng văn học vết thương vẫn có sức lan tỏa lớn trên văn đàn.”, Ngưu Vũ nói: “Tạp chí của chúng ta cũng nhận được một số bài viết, nhưng chất lượng không cao. Chồng cô cũng từng trải qua nỗi đau của Cách mạng Văn hóa, liệu có thể nhờ anh ấy viết một bài cho tạp chí của chúng ta được không?”
Tư Tồn lắc đầu, nói chắc như đinh đóng cột: “Bây giờ anh ấy đang sống rất tốt, không cần thiết phải đào xới lại những chuyện trong quá khứ”.
Ngưu Vũ nhấp một ngụm trà rồi nói: “Suy cho cùng, đây là bi kịch do một thời đại gây ra, rất đáng để suy ngẫm, rất có tính điển hình”.
Tư Tồn nhìn thẳng vào Ngưu Vũ, ngập ngừng: “Chủ biên, cuộc sô\'ng là phải nhìn về phía trước,