Buổi sáng hôm nay, cuối cùng chúng tôi nhận được thư của Quân Vỹ, được biết anh ta đang ở cùng với Bách Lý Tấn. Thư viết, lúc này hai người đang ở Bối Trung tập trung nghiên cứu một bí thuật, bí thuật đó là làm thế nào dùng thuốc điều khiển chính xác sự chuyển biến từ người thành thú.
Những bí thuật lưu truyền xưa nay Quân Vỹ không hề biết, anh ta không nên nhúng tay vào những việc đó mới phải, có lẽ ngẫu nhiên gặp Bách Lý Tấn, bị anh ta lôi kéo đi làm những việc không công. Thư cho biết, nghiên cứu hiện đang ở giai đoạn sơ khai, muốn chuyển đổi thành công, trước hết phải tìm ra bí dược khiến người ăn xong biến thành dã thú, hỏi tôi có đề nghị nào hay.
Tôi cho là không có bí dược biến người thành thú, muốn biến thành thú, có thể mua ít xuân dược kích dục, con người sau khi dùng xuân dược đó sẽ trở nên giống cầm thú, càng dùng nhiều càng giống cầm thú, rồi sinh ra một đống tiểu cầm thú…
Mộ Ngôn nghe vậy, suy nghĩ một lát, quyết định đổi ý đích thân đưa tôi đến Bối Trung. Chuyện này cảm giác giống như các bậc phụ huynh trước khi đi đâu đó làm việc lớn nhất định phải đưa con cái gửi gắm một nơi nào đó, kết quả những bậc phụ huynh đi làm việc lớn kia thường không hay trở về hoặc không thể trở về nữa, những đứa con để lại lần lượt trở thành trẻ hư… Tôi cảm thấy một cách bản năng nên đi theo Mộ Ngôn, nhưng chàng cho là tôi nên chờ đợi ở một nơi an toàn, Bối Trung là một nơi an toàn, tuyệt đối sẽ không có sơ sẩy gì.
Mặc dù lập tức bày tỏ có thể cùng chàng đồng cam cộng khổ nhưng lại bị phản bác: “Một số nơi rất nguy hiểm với phụ nữ, còn đối với đàn ông chỉ là hơi nhạy cảm một chút, em đến đó mới làm tôi lo lắng”.
Tôi cảm thấy nên tin tưởng chàng, nhưng vẫn phải dùng thủ thuật để chàng bỏ ý định đưa tôi đến chỗ Quân Vỹ: “Chàng không biết sao, Quân Vỹ từ lâu đã nói muốn lấy em, sao chàng ngốc thế, nhất định đưa em đến bên anh ta, như vậy không an toàn”. Nói câu đó xong, mới sực nhớ ra là chàng luôn thích khiêu chiến, lập tức tôi bị nhấc lên ấn vào xe ngựa: “Anh ta cứ thử xem”.
Đi thâu đêm, đến thẳng Bối Trung.
Hai nước Vệ, Trần chung một con sông, đó là Đoan Hà, Đoan Hà bắt nguồn từ Bối Trung của nước Trần. Nhưng Bối Trung không nổi tiếng bởi con sông đó, mà nổi tiếng bởi có dòng họ Công Nghi làm nghề đúc kiếm lừng danh thiên hạ.
Nghe đồn dòng họ Công Nghi tồn tại từ xa xưa, tổ tiên từng tham gia cuộc quyết chiến giữa con người với sứ thần nhà trời ở bồn địa đá, sau đó buông kiếm chuyển sang buôn bán, lập nghiệp ở đất Bối Trung, nhiều đời làm nghề đúc kiếm, do từng lập công với Trần triều nên được hưởng nhiều đặc quyền, đến khi Trần quốc phong đất, gia sản đã giàu có vô địch thiên hạ. Mỗi đời Trần vương đều gả một vị công chúa sủng ái nhất cho dòng họ đó, khiến dòng họ Công Nghi có những quan hệ chằng chéo về huyết thống hết sức phức tạp với vương thất Trần quốc.
Người trong thiên hạ cho rằng, mục đích nước cờ đó của Trần vương là hướng tới tài sản khổng lồ của dòng họ Công Nghi, nhưng tôi không nghĩ như vậy. Tuy nhiên bất luận thế nào, dòng họ Công Nghi có bảy trăm năm lịch sử được kế truyền hai mươi nhăm đời đã bị hủy diệt bởi một trận đại hỏa hoạn bảy năm trước.
Bảy năm trước quả thật đã xảy ra không ít biến cố, lúc đó tôi còn nhỏ không biết, sống trong Thanh Ngôn tông, tin đồn về một gia tộc ở xa xôi đâu đó bị hủy diệt bởi một trận đại hỏa hoạn lọt qua những bức tường sừng sững của quốc tông giáo truyền đến tai tôi, tôi cảm thấy chuyện đó chẳng liên quan đến mình.
Sư phụ nói: “Con là công chúa nước Vệ, cũng nên hiểu ít nhiều thế sự thiên hạ, dòng họ Công Nghi giàu có như thế, bị hủy diệt khác nào chặt mất một cánh tay của Trần vương, bất luận thế nào đối với nước Vệ cũng là chuyện tốt”.
Tôi thầm nghĩ, ai biết chuyện đó không phải do Trần vương gây ra?
Sư phụ trầm ngâm hồi lâu, sau đó lần đầu tiên tôi được nghe sư phụ kể về truyền thuyết hung thú Thiên Hà. Hung thú Thiên Hà, sau nghìn kiếp nạn máu chảy thành sông là thần hộ vệ của dòng họ Công Nghi, ngủ yên dưới đáy sông, bảo vệ dòng họ Công Nghi đời đời thái bình. Thực ra tôi hơi nghi ngờ, cảm thấy cái gọi là hung thú đó sao có thể gọi là Thiên Hà, giả sử nhất định phải có ngụ ý sau khi trải qua nghìn tai họa máu chảy thành sông, gọi là Hậu Hà cũng hay hơn Thiên Hà.
Nhưng đó không phải là vấn đề chủ yếu, vấn đề chủ yếu là, tại sao một gia tộc cường thịnh như vậy, lại có riêng một vị thần bảo hộ, lại có thể bỗng chốc bị hủy diệt tan tành, Trần vương không làm được, chỉ có một lý giải duy nhất, dòng họ Công Nghi bị chính vị thần bảo hộ đó hủy diệt.
Bài học tôi rút ra được từ câu chuyện này là nuôi thần hộ vệ cũng rất nguy hiểm, còn sư phụ lại nhìn xa hơn: “Rất nhiều việc có nhân mới có quả, có quả tất có nhân, dòng họ Công Nghi bị tai họa triệt diệt như vậy tất có nhân từ xa xưa, ví như một ngày nào đó Vệ quốc bị diệt, cũng do nguyên nhân từ xa xưa, con có thể không hiểu nhân quả, nhưng con phải nhìn thấy hậu quả, trước khi làm gì hãy nghĩ tới hậu quả”.
Ấn tượng của tôi về gia tộc Công Nghi sở dĩ rất sâu chính do những lời dạy đó của sư phụ, những lời đó đến giờ tôi vẫn nhớ, ngoài ra còn cảm thấy nhiều tiền như vậy bị lửa thiêu hết thật đáng tiếc. Đương nhiên một gia tộc lâu đời như thế có thật bị hỏa hoạn tàn phá như đồn đại hay không, đến nay vẫn còn là bí ẩn, nhưng lại có tin đồn, hai năm sau, Công Nghi Phỉ, trưởng tộc đời thứ hai nhăm của gia tộc Công Nghi đã tái dựng môn đình từ đống đổ nát, chàng ta còn là một trang nam nhi tuấn kiệt, chỉ có điều gia tộc Công Nghi sau khi tái thiết không sinh sống bằng nghề đúc kiếm nữa, chuyển sang kinh doanh đất đai, châu báu. Đấy là những tin sau này nghe được .
Bỗng dưng nhớ tới chuyện cũ chẳng qua là do lần này nơi Mộ Ngôn định đưa tôi đến chính là gia tộc Công Nghi ở đất Bối Trung. Trước khi chàng trở lại, tôi sẽ chờ ở đó. Suy cho cùng cũng là chuyện thường, người đời chẳng phải luôn ở trong trạng thái chờ đợi và được chờ đợi đó sao, thước đo khoảng cách giữa hai cái đó chính là lòng người. Khoảng cách gần trong gang tấc mà biển trời xa cách ngày xưa hy vọng sau này có thể trở thành xa cách cả biển trời mà gần trong gang tấc, nhưng tốt nhất là chỉ nên gần trong gang tấc thôi.
Chưa đầy một ngày đã tới chân núi Cô Trúc, thuộc địa phận Bối Trung.
Mộ Ngôn nói Phật Tang uyển, biệt cư của gia tộc Công Nghi tọa lạc trên lưng chừng núi Cô Trúc, ngày mai sẽ có người đến đón chúng tôi lên núi, nghĩ đến lúc này Quân Vỹ và Tiểu Hoàng đang ở gần đây, bất luận là nơi nào, một điều chắc chắn là sẽ gặp lại sau bao ngày xa cách, chắc chắn hơn nữa, khi gặp nhau Quân Vỹ nhất định hỏi thẳng tình hình của tôi từ ngày xa nhau, những vết thương trên vai tôi không thể giải thích với anh ta.
Tôi nằm trên giường thầm nghĩ, xa nhau đã lâu tôi cũng hơi nhớ Quân Vỹ, con người anh ta có lúc thần kinh nhập nhằng, nhưng ngoài lúc đó cũng là một người có tiền đồ, nhưng không muốn bị anh ta cằn nhằn, chỉ có cách hoãn cuộc gặp thêm vài ngày. Nghĩ vẩn vơ mãi, đầu óc dần mơ màng, đó là dấu hiệu sắp ngủ.
Cái chết chỉ là bóng đêm, vạn vật trên đời rồi cũng đến lúc trở về bóng đêm, những người sống đang nhích từng bước đến bóng đêm đó, đây cũng chính là giấc ngủ của người chết. Khi bóng tối quen thuộc dần dần bao phủ, trước mắt tôi bỗng nhiên hé ra một luồng sáng. Luồng sáng bùng phát tỏa khắp nơi, lát sau dần dần biến mất, thay vào đó là một màn sương mù dày đặc cuồn cuộn lan tỏa, thềm đá màu xanh cao cả trăm bậc ẩn hiện trong sương, cuối những bậc đá tít trên cao là một cái cổng lớn uy nghi.
Sương mù lan tràn, tầng tầng hoa phật tang màu vàng trải khắp nửa ngọn núi ẩn hiện trong mênh mang sương khói. Sơn môn sừng sững, cột đá uy nghi, lầu gác trùng trùng, trước lầu môn treo một bức rèm châu ngũ sắc cực lớn, gió lay động bức rèm, tiếng ngọc châu va chạm lanh canh.
Bên cạnh bức rèm châu có một cô gái đang đứng, tay giương chiếc ô lớn, cán trúc hơi cong, tán ô màu trắng toát, không có bất kỳ trang trí nào, giống như một món đồ tang, dưới tán ô lộ ra một vầng trán trắng ngần với một dải lụa đen đính ngọc buộc vắt ngang, hai hàng lông mày dài cong như mảnh trăng non, mắt băng lạnh, sống mũi thẳng, môi nhạt màu, hơi mím.
Toàn thân cô gái là một màu trắng toát, vật trang điểm duy nhất là mái tóc đen buông xõa tựa dòng thác đen từ trong sương mù đổ xuống, dài chấm gót chân. Một mỹ nhân như tạc từ băng.
Cách ba bậc thềm đá màu xanh trên có những vết nứt, một chàng trai áo trắng đang cúi người nhặt lên chiếc vòng tay bằng ngọc màu đen óng ánh, khi ngẩng đầu mới thấy đó là một khuôn mặt hao hao giống cô gái, chỉ có khác cặp lông mày không cong như mảnh trăng non, ánh mắt không lạnh như băng tuyết.
Mặc dù cũng xiêm áo trắng muốt như cô gái, nhưng cổ tay áo thêu hoa phật tang bằng chỉ tím, bàn tay cầm chiếc vòng ngọc màu đen lộ ra dưới ống tay áo: “Chiếc vòng này là của cô nương?”. Ánh mắt chàng trai long lanh như cười, “Hình như tại hạ đã gặp cô nương ở đâu?”.
Mưa lất phất, những đám rêu xanh trên bậc thềm đá ngấm nước mưa, màu sẫm dần, ở chóp mái hiên hai lớp cong vút nạm bạch ngọc treo tấm gương đồng cực lớn phản chiếu biển hoa màu vàng trên núi.
Chàng trai dung mạo tuấn tú, rạng ngời hơi ngẩng đầu nhìn cô gái, trong màn sương mù vần vũ, cạnh tấm rèm ngũ sắc trên bậc thềm, cô giương ô bước từng bước, đôi giày thêu màu trắng ướt nước mưa lộ ra đường viền màu vàng chanh.
Dừng lại cách chàng một bậc cô đón chiếc vòng ngọc màu đen bóng loáng nước mưa trong tay chàng, những ngón tay trắng bóc chạm vào tay chàng, chàng nắm tay cô, cô ngước mắt nhìn vẻ mặt hơi ngơ ngẩn của chàng: “Đa tạ”.
Cô chờ chàng buông tay, có tiếng sáo từ một nơi không xa nào đó từ từ vọng đến, chàng vẫn nắm tay cô: “Tại hạ là Công Nghi Phỉ ở Bối Trung, dám hỏi quý danh cô nương?”.
Cô hơi nâng chiếc ô, ngước nhìn chàng đăm đăm, lát sau, giọng nói trong như tiếng châu ngọc va nhau, lạnh như hoa phật tang nở trong tuyết vang lên: “Vĩnh An, Khanh Tửu Tửu”.
Vội mở bừng mắt, nếu có hơi thở tôi nhất định thở hổn hển, bên ngoài một vầng trăng tròn treo cao, ánh trăng lặng lẽ lọt qua cửa sổ, soi trước giường lúc mờ lúc tỏ.
Đây không phải là mộng, mà là ý thức tàn dư mà Hoa Tư dẫn viên giao châu phong ấn bắt được, nó vấn vương lơ lửng trên núi Cô Trúc, lẩn khuất trong sương mù, lạnh lùng và cao ngạo, trong suốt như ánh trăng dưới đáy nước giữa phồn hoa cuộc đời, lại như bức tranh thủy mặc dang dở cô đơn đợi chờ ai đó vẽ nốt những nét cuối cùng.
Ý thức phiêu du giữa đất trời được Hoa Tư dẫn cảm tri chỉ có thể là ký ức của người chết đối với thế gian, là những ký ức đặc biệt được khắc ghi.
Một cánh cổng sơn môn, một bức rèm châu ngũ sắc, một khung trời mờ sương, một chiếc ô trúc, mùa hoa phật tang, một đôi nam nữ tương ngộ, tất cả hình ảnh này nhất định có ý nghĩa đặc biệt nào đó đối với người đã chết. Nhớ lại cảnh tượng vừa nhìn thấy trước sơn môn, tôi thầm nghĩ, người đã chết có thể là chàng trai áo trắng nắm mãi tay cô gái, bất giác thầm tiếc nuối.
Nhưng lại nghĩ đến hai cái tên nghe được vừa rồi, cảm thấy có lẽ không đúng, Công Nghi Phỉ ở Bối Trung, nếu không trùng tên, trưởng tộc đời thứ hai mươi lăm của gia tộc Công Nghi hẹn sáng mai xuống núi đón chúng tôi cũng mang tên đó. Nếu vậy… cảnh tôi nhìn thấy có phải là ý thức tàn dư của