USB của tôi gắn vào móc chìa khóa, tôi đưa cho anh, anh cắm vào cổng USB.
“Tên file là ISCB, trong folder My software.”
Tôi chỉ thấy anh nhấp chuột hai lần, sau đó liền rút USB ra trả tôi: “Bây giờ không rảnh tìm file, chép hết USB vào trước đã, để tối tìm sau.”
Bây giờ tới phiên tôi điên tiết đây.
Những file khác thì tôi không sợ anh xem, nhưng trong USB có bản thảo Chuyện cũ của Lịch Xuyên. Tôi không thể cho anh biết, càng không thể tỏ ra lo lắng. Nếu không, anh mà tò mò, nhất định sẽ mở ra đọc. Có từ điển Kim Sơn rồi, anh đâu sợ đọc không hiểu.
“Được rồi.” Tôi án binh bất động, âm thầm khấn vái trời xanh, ngàn vạn lần đừng để anh phát hiện ra bí mật của tôi.
Nhìn anh có vẻ như đang đợi tôi đi khỏi. Tôi càng không chịu đi.
“Em còn chuyện gì à?”
“Còn! Anh tự phiên dịch mấy tài liệu đó rồi, xin hỏi, tôi làm gì đây?”
Anh suy nghĩ một chút, nói: “Em nghỉ ngơi đi.”
Miệng tôi vo thành chữ o: “Tôi? Nghỉ ngơi?”
“Ừ, em nghỉ ngơi.”
“Vẫn được nhận lương chứ?”
“Vẫn trả lương.”
“Vậy tôi sẽ mua vé máy bay về Bắc Kinh.”
“Không được.”
Tôi trừng anh: “Không phải anh nói cho tôi nghỉ sao?”
“Em nghỉ ngơi ở đây, chờ nhận phân công. Nếu tôi muốn gặp ai, em tới đây phiên dịch.”
“Được rồi.” Tôi nhìn dáng vẻ cô độc của anh, tim lại mềm nhũn “Dù gì tôi cũng rảnh, tối nay tôi bắt đầu dịch Địa chí quận Vĩnh Gia, tối ngày mốt giao cho anh.”
“Tôi tự xem Địa chí quận Vĩnh Gia cũng được, tôi có từ điển Kim Sơn rồi.”
Tôi cười lạnh: “Địa chí quận Vĩnh Gia viết bằng thể cổ văn, cổ văn thời Đạo Quang[3], anh đọc có hiểu không?”
[3] Thời Đạo Quang (1821 – 1850) là thời kỳ hoàng đế Đạo Quang (1782 – 1850) nhà Thanh trị vì.
Thật ra, tôi cũng không biết cổ văn thời Đạo Quang và cổ văn thời Càn Long khác nhau chỗ nào. Chỉ muốn lừa anh thôi mà.
Anh đưa tay nâng người dậy, ngồi thẳng trên giường, nói: “Xem ra, đọc cổ văn thời Đạo Quang chỉ là chuyện nhỏ với em. Đã như vậy, em có thể dịch nhanh hơn được không? Đưa bản dịch cho tôi trước ba giờ chiều ngày mai. Nếu đưa trễ thì đừng trách tôi complain[4] với Tổng Giám đốc Vương.”
[4] Than phiền.
Dứt lời, anh xốc chăn lên, đưa cái chân duy nhất xuống tìm dép lê trên thảm. Sau đó, cúi người xuống, định nhặt gậy chống trên thảm lên. Tôi nhìn anh, đột nhiên nhớ lại cạnh tượng anh mở tủ lấy sửa vào đêm nào đó nhiều năm trước. Tim bỗng nhói đau.
Vội giành lấy gậy đưa cho anh.
Anh đứng dậy, anh đang mặc quần áo tập yoga màu đen. Có thể nhìn ra hành động của anh hơi chậm chạp, hồ như vẫn đang cắn răng chịu đau. Anh cùng tôi ra cửa, mở cửa giúp tôi. Anh cúi đầu, tôi ngẩng đầu, trán tôi chạm vào cằm anh. Tôi vội vàng quay đầu sang một bên.
Anh nói: “Em về đi.”
Tôi đang định đi, bỗng nhiên nhớ ra một việc: “Đúng rồi, từ điển của tôi đâu? Trả từ điển lại cho tôi.”
Anh vào phòng, lấy quyển từ điển Viễn Đông ra quăng vào tay tôi. Nếu như nói, lúc anh mở cửa cho tôi có chút khách sáo, thì lúc quăng từ điển cho tôi là không khách sáo chút nào.
Trang đầu tiên của quyển từ điển có một cái kẹp sách bằng ngà voi. Là do ba tôi tặng. Nhưng giờ lại không thấy.
Tôi trợn mắt nhìn anh, đang tính hoạnh họe. Anh nói: “Ở phía sau. Tối qua tôi có tra mấy từ.”
“Cái gì ở phía sau?”
“Kẹp sách của em.”
Tôi giận không chỉ vì nguyên nhân này: “Trang đầu tiên đâu? Mất tiêu rồi?”
“Xé rồi.”
“Tại sao?”
“Em nói thử xem?”
Tôi quay đầu bỏ đi.
Nguồn ebooks: http://www.thichtruyen.vn
Cuốn Địa chí quận Vĩnh Gia không dày lắm. Hơn nữa, với nền tảng hai tháng tôi luyện ở Cửu Thông, cộng với việc Lịch Xuyên chỉ muốn xem nội dung chính về văn hóa và địa lý, tôi liền hút thuốc, uống trà, uống cà phê, dịch suốt đêm không ngủ không nghỉ, đến 10 giờ sáng hôm sau đã xong cơ bản. Tuy chưa trau chuốt câu chữ, nhưng chắc chắn không có sai sót. Tiếp theo tôi trau chuốt bản dịch hết 3 tiếng, sau đó, thấy biểu tượng MSN của Lịch Xuyên ở CGP sáng đèn, bèn chuyển file word qua cho anh.
Lát sau, anh trả lời: “Thanks. Could I also have a hard copy?[5]”
[5] Cảm ơn. Em in giúp tôi một bản được không?
Tôi trả lời lại bằng tiếng Anh: “Don’t you have a printer in your office?[6]”
[6] Không phải phòng anh cũng có máy in à?
Nửa tiếng sau, điện thoại ở đầu giường reo.
“Annie, phiền em qua chỗ tôi một chút!”
Tôi chạy vội đến phòng anh. Bây giờ anh không ngồi trên giường nữa, mà chuyển sang ngồi trên xe lăn. Anh đang cầm bản dịch của tôi trong tay. Anh bảo tôi ngồi xuống, tôi đành ngồi xuống cái ghế sô pha màu trắng. Mảng đỏ ngày hôm kia vẫn còn đó, đập thẳng vào mắt tôi.
“Tạ Linh Vận[7] là ai?”
[7] Tạ Linh Vận (385 – 433): một nhà thơ, nhà thư pháp nổi tiếng thời Đông Hán và Lưu Tống. Tạ Linh Vận từng nhậm chức Thái thú Vĩnh Gia (nay là Ôn Châu).
“Là nhà thơ lớn thời Đông Tấn[8].”
[8] Đông Tấn (317 – 420): từ năm 420 Đông Hán sụp đổ và buộc phải nhường ngôi lại cho Lưu Tống (thời kỳ Nam Bắc Triều).
Từ “Đông Tấn” chắc không quá xa lạ đối với người Trung Quốc đâu.
“Anh có biết Đào Uyên Minh[9] là ai không?”
[9] Đào Uyên Minh (365 – 427): là một trong những nhà thơ lớn, nhà văn hóa lớn của Trung Quốc trong lịch sử.
“Không rõ lắm.”
“Tạ Linh Vận và Đào Uyên Minh, là người sáng lập phong cách thơ sơn thủy điền viên của Trung Quốc.”
“Tôi hỏi Tạ Linh Vận, em nói Đào Uyên Minh làm gì?”
“Họ đều là người thời Đông Tấn.”
“Thời Đông Tấn là thời nào?”
Bó tay! Bực mình! Vương Lịch Xuyên, tôi đánh giá trình độ tiếng Trung của anh quá cao rồi!
Tôi giảng giải lịch sử Đông Tấn cho người này nghe hết 15 phút.
“Bây giờ anh hiểu chưa?”
“Hiểu rồi.” Thái độ thành thật “Nói vậy, Tạ Linh Vận từng ở Ôn Châu, tức là Vĩnh Gia thời đó.”
“Ông ấy là Thái thú quận Vĩnh Gia.”
“Hai câu Pond and pool grows with grasses of spring; Garden willows very the birds that there sing, là hai câu thơ để đời của Tạ Linh Vận hả?”
“Ừ, nguyên văn tiếng Trung là “Trì đường sinh xuân thảo, viên liễu biến minh cầm.”[10]”
[10] Bờ ao mọc cỏ nõn, vườn liễu hóa chim kêu.
“Tôi đâu thấy hay gì đâu.” Anh nói “Hoặc là, tại em dịch dở. Em nói nghe thử, hai câu “Hồ nước sinh xuân thảo, viên liễu biến minh cầm” hay ở chỗ nào?”
“Tạ Linh Vận bị biếm chức về Vĩnh Gia, tâm trạng không vui, nằm liệt giường suốt cả mùa đông. Một hôm, ông ấy vén rèm cửa sổ lên, chợt thấy bờ ao bên ngoài đã lên đầy cỏ xuân, cây liễu trong vườn cũng đang ra lộc, chim chóc thì hót líu lo. Sự ảm đạm chán nản của mùa đông cũng theo đó tan theo mây khói.”
Thấy anh có vẻ chưa hiểu, tôi lại giải thích bằng tiếng Anh.
“Anh có hiểu không?”
“Tôi hiểu ý nghĩa rồi, nhưng tôi vẫn chưa hiểu, câu này rốt cuộc hay ở chỗ nào.”
“Câu này hay ở chỗ dùng phép đảo ngữ.” Tôi tự kiểm điểm, đáng lẽ không nên dịch nhiều thơ của Tạ Linh Vận. Tạ Linh Vận là danh nhân văn hóa Ôn Châu, cuốn đại chí nào cũng nhắc tới ông ấy và thơ của ông ấy. Nhưng mà, tôi không cần dịch quá nhiều, nếu câu thơ nào Lịch Xuyên cũng hỏi kỹ càng, chắc tôi đi đời. Bây giờ tôi đành phải giảng ngữ pháp cổ văn để làm khó anh.
“Đảo ngữ là gì?”
“Dislocation. Đáng lẽ hai câu này phải viết là “Trì đường xuân thảo sinh, viên liễu minh cầm biến”. Vị ngữ “sinh” được đảo trước chủ ngữ là “xuân thảo”, chính là phép đảo chủ vị. Trong thơ Đường, tác dụng chủ yếu của phép đảo ngữ là dùng ngữ pháp để là nổi bật hình tượng trong câu, tạo ấn tượng thị giác cho người đọc.”
“Ừ, ấn tượng thị giác, tôi thích từ này.”
Xem ra anh còn muốn hỏi tiếp, nếu cứ hỏi tiếp thì tôi lộ tẩy mất. Tôi liền ngăn trước: “Chuyện này có liên quan gì đến kiến trúc không?”
“Không có liên quan thì không thể nghe để tăng thêm kiến thức à?”
Tô hết biết nói gì.
“Tạ Linh Vận họ Tạ, em cũng họ Tạ, em có quan hệ gì với ông ta không?”
“Có quan hệ.” Tôi hơi bực mình “Ba tôi nói, dòng họ Tạ nhà tôi là một chi của họ Tạ ở Trần Quận, đồng tông với Tạ Linh Vận.”
“Ông nội của tôi nói, nhà tôi thuộc gia tộc Vương thị thời Lang Nha[11]. Cũng là một gia tộc lớn thời xưa.”
[11] Lang Nha: một tên gọi khác của thời Đông Tấn, vì các vua này thuộc dòng dõi Lang Nha Vương.
“Cho nên, thơ Đường có câu “Cựu thời Vương Tạ đường tiền Yên, phi nhập tầm thương bách tính gia”[12], chính là nói đến hai dòng họ này. Tổ tiên của chúng ta ngày xưa ở ngõ Ô Y, bên cầu Chu Tước, ngoài thành Kim Lăng, hai họ đều quen biết nhau. Kim Lăng chính là Nam Kinh thời nay. Hiểu chưa?”
[12] Trước thời Yên -7, hai gia tộc Vương thị và Tạ thị vốn không phải là bá tánh tầm thường.
Anh thành thật gật đầu: “Hiểu rồi.”
Một lát sau, anh nói tiếp: “Annie, tôi phát hiện em ngày càng học rộng hiểu nhiều. Tối hôm kia, có rất nhiều từ em nói tôi chưa từng nghe lần nào. Ví dụ như, actinidia chinensis là gì?”
“Đào mi hầu[13].”
[13] Đào mi hầu: hay còn gọi là dương đào, đào khỉ… là một loại trái cây đặc hữu của vùng núi cao Trung Quốc. Tương truyền các loại khỉ lớn trên núi rất thích ăn trái này, nên người dân đặt tên là đào mi hầu.
“Nếu như em nói là kiwifruit, chắc tôi sẽ hiểu nhanh hơn.”
“Kiwi là tên gọi của New Zealand. Mà cây đào mi hầu vốn sinh trưởng ở Trung Quốc, đã mọc trên đất này suốt trăm ngàn năm qua. Thơ Đường có câu “Trung đình tỉnh lan thượng, nhất giá mi hầu đào[14]”. Mãi tới năm 1904, đào mi hầu mới được truyền vào New Zealand nhờ các nhà truyền giáo. Anh muốn gọi thế nào thì tùy, tóm lại, tôi sẽ không gọi nó là kiwi.”
[14] Ngoài sân trên giếng nước, một giàn đào mi hầu.
“Ừm, phục em rồi. Bây giờ mới phát hiện ra em yêu nước đến mức nào, thậm chí còn yêu cả trái cây luôn.”