Mới độ vào hè, trời chưa nóng hẳn, Khang Hy đã truyền lệnh chuẩn bị ra tái ngoại. Tuy năm nào cũng đi, nhưng mỗi lần đi Nhược Hi vẫn rất hân hoan, bởi rời khỏi Tử Cấm thành thì khuôn phép giảm bớt nhiều, cảnh tranh giành đấu đá hình như cũng xa hẳn ra. Cưỡi ngựa phóng nhanh dưới trời xanh mây trắng, tận hưởng ánh nắng ấm áp, làn gió hiền hoà, hương cỏ thơm thơm, nàng cảm thấy cuộc đời vẫn đẹp tươi, lòng vẫn biết thảnh thơi nhẹ nhõm.
Chuyến ra biên tái năm nay tổng cộng có chín a ca tuỳ hành, trong đó có Thái tử gia, Ngũ, Thất, Bát, Thập tứ và Thập ngũ a ca. Nhược Hi chỉ thi thoảng cười nói với Thập tứ a ca dăm ba câu, còn lại gắng tránh được ai thì tránh, nếu không tránh nổi thì thỉnh an xong là khẩn trương cáo lui.
Tháng ngày này có lẽ là những tháng ngày yên ả nhất của Nhược Hi. Hôm nào không phải đi làm, nàng lại một mình cưỡi ngựa lang thang trên thảo nguyên. Hứng thì quất ngựa phóng như bay khắp đồng cỏ, mệt thì nằm ngửa ra lưng ngựa để mặc nó đi thong dong. Lắm khi một người một ngựa lang thang từ buổi hừng đông đến khi ráng tà trải khắp trời, Nhược Hi ngắm nghía chỗ này, thưởng thức chỗ nọ, đói thì nhai lương khô, khát thì uống nước, một ngày vui riêng ta với ta cứ thế mà trôi. Ngọc Đàn nhận xét: “Cả ngày chị chỉ loanh quanh bên ngựa, hình như càng lúc càng không thích nói chuyện với người nữa ấy.”
Nhược Hi cúi mặt cười, nhận ra cả bản thân cũng không ý thức được mình biến thành như vậy tự khi nào. Từ nhỏ tới lớn, nàng là người chúa ghét cô độc lẻ loi, luôn thích rủ rê bạn bè tụ tập. Hồi mới đến Thâm Quyến làm việc, chưa có bạn, tan sở nàng chẳng muốn về nhà, toàn vào ngồi lì trong quán bar. Ngay dạo ở phủ Bối lặc, nàng cũng phải gọi bọn a hoàn bé đến chơi cùng, thế mà vẫn thở than “buồn tẻ quá, buồn tẻ quá”. Trước sau, nàng không hề biết nếu chỉ trơ trọi một mình thì để thời gian trôi bằng cách nào.
Tháng ngày vùn vụt đuổi xuân qua, nhuộm xanh hàng chuối nhuộm hồng hoa. Chỉ mấy mùa xanh hồng nối tiếp, nàng đã lặng lẽ thay đổi, bắt đầu biết thưởng thức cái thanh tĩnh của cô đơn. Thực ra, nếu có thể yên ổn như vậy mà sống đến hết đời thì kể cũng là phúc phận.
Năm nay, Tô Hoàn Qua Nhĩ Giai vương gia và Mẫn Mẫn đều không sang, chỉ mình Hợp Truật vương tử đến bệ kiến Khang Hy. Mẫn Mẫn có nhờ y chuyển cho Nhược Hi một phong thư. Thư chưa đọc hết, nàng đã ôm bụng cười bò ra thảm. Mẫn Mẫn cho biết, từ tháng Tám năm ngoái, cáo biệt Khang Hy xong, Tá Ưng vương tử cũng chẳng buồn về bộ lạc mình, cứ một mực đi theo cô, rồi nhận lời mời của Tô Hoàn Qua Nhĩ Giai mà ở lại vương phủ. Khắp thư toàn những chuyện Tá Ưng suốt ngày lẽo đẽo theo Mẫn Mẫn, tìm cách lấy lòng cô, đấu trí đấu dũng với cô, còn cô thì từ khước hoặc ngúng nguẩy lên nước đùa bỡn gã. Đến cuối thư, xem ra Mẫn Mẫn vẫn chưa rung động, nhưng lời lẽ bộc lộ rõ ràng sự tán thưởng đối với Tá Ưng và niềm vui thích khó bề che giấu.
Nhược Hi linh cảm đây chính là vì sao của Mẫn Mẫn rồi. Lần này chắc chắn Mẫn Mẫn không thể bỏ lỡ được, bởi Tá Ưng vương tử không đời nào cho phép cô phớt lờ gã. Nàng gần như trông thấy, hạnh phúc đang chờ họ cách đấy không xa.
Nhược Hi cầm thư đọc đi đọc lại, tâm trạng phấn khởi hẳn lên, cuối cùng nàng cũng có thể chứng kiến thứ hạnh phúc hoà hợp vui tươi, không có chỉ hôn, không có cưỡng ép, không có uất ức, không có tư lợi, chỉ có người yêu và người yêu.
Xem xong thư, nàng chạy khỏi lán, dắt ngựa lao ra đồng cỏ bao la, vừa giục ngựa phi nước đại vừa cười thoả thích, hạnh phúc của Mẫn Mẫn khiến nàng không kìm được nỗi thôi thúc muốn vui sướng vì cô. Đến khi thấy mệt, nàng mới giảm tốc, nằm sấp mình xuống lưng ngựa, nụ cười vẫn đọng nơi khoé môi.
Chợt nghe tiếng vó sắt, Nhược Hi mở bừng mắt thì thấy Bát a ca đang ruổi ngựa đi thong thả bên cạnh. Nét cười vụt tan biến, nàng vội ngồi thẳng dậy, vừa bái chào vừa nói:
- Nô tỳ còn vài việc bận, nếu Bối lặc gia không có gì sai bảo, nô tỳ xin cáo lui.
Bát a ca chằm chằm nhìn nàng, giọng đều đều:
- Ban nãy ta ở trên triền dốc nhìn em mãi. Lâu lắm rồi không thấy em vui vẻ như vậy.
Nhược Hi không biết nói sao, chỉ gằm mặt im lặng. Bát a ca dõi mắt ra xa, giọng nặng nề:
- Thế là em thôi hẳn ư?
Tim nhói đau, nhưng Nhược Hi vẫn điềm tĩnh đáp:
- Thôi hẳn!
- Lòng em đã có người khác?
Biết chàng hiểu lầm, song không muốn giải thích, nàng chỉ đáp đơn giản:
- Không.
Bát a ca quay mặt lại nhìn nàng:
- Ba năm nữa là đến tuổi xuất cung, em định để tuỳ Hoàng a ma chỉ hôn à?
Nhược Hi đáp bừa:
- Chuyện ngày mai để ngày mai lo, muôn sự không do mình, tính toán nhiều làm gì?
Nói đoạn cúi mình cáo từ. Bát a ca nhếch mép, gật đầu xua tay cho nàng đi. Nhược Hi ra roi quất ngựa chạy thẳng.
Chạy được một quãng ngắn, gặp ngay Thập tứ a ca đang gò cương dừng trên triền dốc, phóng mắt nhìn ra xa. Nghĩ lúc này gặp nhau, với tính cách ấy, thể nào gã cũng lại mắng mỏ mình một trận, Nhược Hi bèn giả vờ không trông thấy, thúc ngựa phóng thẳng về trại.
Trả ngựa vào tàu xong, Nhược Hi chậm chạp đi về lán, lòng chua xót khôn tả, cứ gằm đầu mà bước, chợt nghe tiếng hỏi:
- Nhược Hi, nghĩ gì thế?
Nhược Hi ngẩng đầu lên. Thấy Hợp Truật vương tử và Thái tử gia đang tủm tỉm đứng gần đấy, nàng bèn cúi mình thỉnh an.
Không hiểu là vì Mẫn Mẫn hay vì miếng ngọc bội mà Hợp Truật vương tử biệt đãi Nhược Hi hơn hẳn mọi người, bình thường y đều gọi thẳng tên nàng như gọi Mẫn Mẫn, lại liên tục nhắc nàng đừng khách sáo câu nệ với y. Nhược Hi mặc kệ, y thích bảo gì thì bảo, nàng nên làm sao thì nàng làm.
Hợp Truật cười nói:
- Ta nhìn cô lâu lắm rồi, thế mà cô chẳng phát hiện ra gì cả.
Nhược Hi đưa đà:
- Nô tỳ thất lễ, xin Thái tử gia và vương tử trách phạt.
Hợp Truật thở dài:
- Nói đùa thế thôi, ai trách cô mà phải tạ tội, sao lại thận trọng đa lễ thế? Nếu Mẫn Mẫn mà được một nửa của cô thôi thì a ma và ta không phải lo phiền nữa. Bây giờ cô đương hầu hạ Hoàng thượng, xem ra không có cơ hội, đợi mai này xuất cung rồi, ta sẽ đón cô về Mông Cổ vui chơi một thời gian, tiện sửa cái thói khuôn phép của cô đi.
Thái tử cười bảo:
- Bây giờ không có cơ hội vì Hoàng a ma đi đâu cũng dẫn Nhược Hi đi. Song ba năm nữa đến tuổi xuất cung, Hoàng a ma lại phải sắp xếp hôn nhân cho cô ấy. Bấy giờ vương tử có mời, e rằng không thể chỉ mời một mình Nhược Hi cô nương được.
Hợp Truật vương tử không nói gì, chỉ tủm tỉm cười.
Sao ai cũng quan tâm đến chuyện cưới cheo của nàng, cũng nhớ kỹ ngày tháng thế nhỉ? Hay cảm thấy nàng chưa đủ phiền muộn nên phải sốt sắng nhắc nhở thêm? Nhược Hi không muốn nói nữa, bèn nhoẻn cười hành lễ cáo từ. Thái tử gia nhìn nàng, mỉm cười cho lui.
Gió heo may về, Khang Hy ra lệnh nhổ trại hồi kinh. Nhược Hi ngồi trong xe ngựa, nhớ ra năm sau thái tử bị phế, bất giác thở dài. Ngày tháng sắp tới sẽ không còn dễ chịu như thế này đâu, phải phấn chấn lên mà đối diện với bão táp cung đình. Nghĩ lại vụ chỉ hôn, nàng thấy lòng càng phiền muộn. Nên làm thế nào đây?
oOo
Tháng Chín năm Khang Hy thứ năm mươi. Sướng Xuân viên.
Từ tái ngoại về, Khang Hy dọn thẳng đến Sướng Xuân viên. Nơi này gần phủ đệ của các a ca, cũng tiện cho bọn họ vào ra.
Hôm nay tình cờ gặp Thập tứ a ca, thấy gã không bận, Nhược Hi bèn gọi gã lại, cặn kẽ hỏi thăm tình hình Thập a ca và Thập phúc tấn. Kể từ năm kia, hồi Khang Hy triệu các a ca vào Ngự Hoa viên trò chuyện vui vẻ nhưng Thập a ca cáo bệnh không tới, Nhược Hi vẫn canh cánh bên lòng chuyện vợ chồng nhà họ, những muốn hỏi Thập a ca cho rõ ràng, nhưng chẳng dịp nào phù hợp, hoặc do gặp mặt nhưng nàng quên bẵng, hoặc do nhớ ra lại đúng lúc không tiện hỏi.
Thập tứ a ca phì cười:
- Nếu không phải chơi với nhau từ nhỏ, đảm bảo ta sẽ hiểu lầm cô. Sao cô lại quan tâm đến chuyện riêng vợ chồng người ta thế? Thật không hiểu cả ngày cô nghĩ ngợi những gì?
Nói thì nói vậy, nhưng gã vẫn kể lại những chuyện thú vị mà gã bắt gặp. Theo lời gã thì hai người bọn họ đều thuộc dạng ruột để ngoài da, tính tình hấp tấp, không nén được ấm ức, lại đều là người nông nổi nhẹ dạ, hợp thành đôi oan gia ồn ào, sống kiểu tiếng bấc quăng đi tiếng chì quăng lại.
Hai người đang cười nói thì Ngọc Đàn chạy lại gần, sắc mặt lo âu. Thỉnh an Thập tứ a ca xong, cô ngập ngừng nhìn Nhược Hi. Nhược Hi thôi cười, hỏi:
- Chuyện gì thế?
Ngọc Đàn liếc Thập tứ a ca, rồi nhìn Nhược Hi:
- Lúc nãy Thái tử gia… Thái tử gia… nói với Vạn tuế gia là muốn hỏi xin chị, mong Vạn tuế gia tứ hôn.
Nhược Hi điếng người, hai chân bủn rủn, lảo đảo chực ngã, Ngọc Đàn vội đỡ lấy nàng. Cô còn nói nhiều nữa, nhưng tai Nhược Hi đã ong ong, không nghe lọt chữ nào, chỉ nghĩ, ta đã gây nên tội nghiệt gì mà trời già chẳng rủ lòng thương?
Khi tỉnh táo hơn, nàng nhận ra mình đã ngồi trong phòng. Ngọc Đàn thổn thức:
- Chị ơi, chị làm em sợ quá!
Nhược Hi nặng nhọc trỏ chén trà, Ngọc Đàn vội bưng lại để nàng uống mấy ngụm. Nhược Hi thấy người bàng hoàng, chống chếnh, không biết nên nghĩ gì, nên làm gì nữa, buột hỏi:
- Thập tứ a ca đâu?
Ngọc Đàn đáp:
- Thập tứ gia nghe xong, mặt tái xanh chạy vọt đi luôn, chỉ dặn em phải trông nom chị, không được rời nửa bước – Cô đổi giọng an ủi – Chị đừng lo vội. Vạn tuế gia đã gật đầu đâu?
Nhược Hi thẫn thờ hồi lâu, nghĩ bụng không thể thế này được, sự việc không thể như thế được, bèn bảo Ngọc Đàn:
- Em kể lại tỉ mỉ chuyện hôm nay, thật ngọn ngành thật chi tiết cho tôi nghe, nhỏ nhặt như ánh mắt của Hoàng thượng cũng đừng bỏ qua.
Ngọc Đàn kể:
- Thấy Thái tử gia đến, chị Vân Hương bảo em dâng trà. Khi em bưng khay vào, Thái tử gia đang quỳ dưới sàn, bẩm với Hoàng thượng rằng: “Nhược Hi đã đến tuổi gả chồng từ lâu, tính tình lại hiền lành lễ phép, nhân phẩm dung mạo đều xuất chúng, vì vậy nhi thần bạo gan mong Hoàng a ma đứng ra ban nàng cho nhi thần lấy làm trắc phi.” Hoàng thượng trầm ngâm một lúc mới nói: “Nhược Hi theo hầu trẫm đã nhiều năm, luôn cúc cung tận tuỵ. Trẫm cũng biết nó đã đến thì, chỉ hiềm trẫm tuổi tác đã cao, rất cần người ý tứ chu đáo như thế ở bên. Ý riêng là vẫn muốn giữ nó lại một thời gian nữa xem nhà nào tử tế mới gả, lại ban cho hồi môn thật hậu để nó được rỡ ràng đi lấy chồng, không uổng công phục dịch trẫm. Hôm nay con hỏi, thật sự đột ngột quá, trẫm phải suy nghĩ đã…” Bấy giờ em dâng trà xong, chẳng còn cớ gì mà nấn ná nên đành lui ra. Bởi lòng quá kinh hoàng, sợ biểu hiện khác thường trên mặt sẽ khiến Hoàng thượng và Thái tử gia phát giác, em cứ cúi gằm đầu không dám ngẩng lên, không để ý được nét mặt của cả hai vị.”
Nhược Hi nghiền ngẫm kỹ càng. Tâm tư của thái tử, nàng đoán chỉ bắt nguồn từ ba nguyên nhân: một là Khang Hy, hai là người Mông Cổ, ba là Mã Nhi Thái tướng quân, trong đó nhân tố Mông Cổ hiển nhiên chiếm phần lớn. Mãn triều đều biết quan hệ giữa thái tử và người Mông Cổ không được êm thắm. Để củng cố địa vị của mình, Dận Nhưng luôn muốn cải thiện sự bất hoà đó.
Nhưng tâm tư Khang Hy ra sao, Nhược Hi tuyệt nhiên không dò đoán được. Nếu Khang Hy bằng lòng, nàng nên làm thế nào, chẳng lẽ phải lấy thái tử thật? Hay kháng chỉ? Rồi sắp sẵn ba thước lụa trắng như Tứ a ca từng nói?
Nàng biết kết cục của tất cả mọi người, chỉ không biết kết cục của mình. Phải chăng lấy thái tử