ngây cả người ra. Thực ra, những động tác hay ánh mắt tưởng chừng như rất vô ý của người khác giới lại là thứ vũ khí hiệu quả nhất khiến cho đối phương rung động.
Mũ Bò lấy cái bình nhỏ đựng Whiskey của tôi đưa cho đối phương. Người đàn ông bán tín bán nghi nhận lấy, thử một ngụm nhỏ, liếm liếm mép, nhìn chúng tôi cười cười rồi lại làm thêm mấy ngụm nữa. Điệu bộ lúc uống rượu của người đàn ông rất thoải mái tự nhiên, làm Mũ Bò nhìn đến ngây cả người ra. Thực ra, những động tác hay ánh mắt tưởng chừng như rất vô ý của người khác giới lại là thứ vũ khí hiệu quả nhất khiến cho đối phương rung động.
Người đàn ông chừng ba bốn mươi tuổi, râu ria xồm xoàm, trên mặt đầy những mụn là mụn, có lẽ hậu quả của việc phơi nắm lâu ngày. Tóc anh ta rất dài, bẩn thỉu và xù lên như một chiếc kẹo bông. Anh ta mặc một chiếc sơ mi kẻ, tay áo xắn lên tận bắp tay, quần bò rách lỗ chỗ. Mặt mũi thì không thể nào so sánh với Brad Pitt, nhưng so với Travis trong “Paris, Texas” thì chắc cũng không kém là mấy.
Chúng tôi cho nhà khảo cổ nghiệp dư lên xe, tiếp tục hành trình đi về phía trước.
Anh ta tốt nghiệp khoa lịch sử của một trường đại học danh tiếng từ rất sớm, được phân bổ về phòng tuyên truyền của một cơ quan nhà nước, công việc nhàm chán đến phát ngấy, bèn dứt khoát thôi việc ra chợ đêm bày sạp hàng buôn bán. Anh ta chuyên bán mấy thứ đĩa của Đặng Lệ Quân hay Lưu Văn Chính, gặp đúng giai đoạn mọi người đổ xô đi mua nên cũng kiếm được chút ít. Thế là bắt đầu đi khắp các khu di chỉ trên toàn quốc, chẳng nghiên cứu được gì mà tiền thì tiêu hết sạch, đành phải về tiếp tục đi buôn. Lần này anh ta chuyên bán mấy thứ quần áo có in chữ “đang bận, đừng làm phiền” … lại gặp đúng thời vụ, kiếm được một khoản kha khá, vậy là lại lên đường đi nghiên cứu khảo cổ … cứ lặp đi lặp lại như vậy, lưu lạc tới tận bây giờ.
Mũ Bò say mê lắng nghe anh ta kể chuyện, rồi hào hứng nói theo. Mặt đường gập ghềnh, cô nàng liền dứt khoát ngửa đầu gối lên người anh chàng phía sau, dáng vẻ rất thân mật. Tôi mừng thay cho họ. Trên sa mạc mênh mông gặp được người tình đầu ý hợp như vậy thật không dễ, cần phải trân trọng và hưởng thụ
Chúng tôi tới Liễu Viên vào buổi chiều.
Chặng đường dài vất vả cộng với quá tải, chiếc xe ba bánh khò khè một tiếng rồi dừng xịch lại, không làm cách nổ máy đi tiếp được. Tôi kiếm điện thoại gọi về cho người bạn ở Gia Du Quan, xin lỗi rối rít, rồi đẩy xe đến tiệm sửa xe mà anh ta cho địa chỉ. Ông thợ cả cẩn thận kiểm tra toàn bộ xe, rồi nói phải ba bốn ngày mới sửa xong. Tôi đành để lại tiền, rồi tìm cách khác lên đường.
Ba người ngồi bên vệ đường, rầu rĩ vì không biết làm cách nào đến được Thổ Lỗ Phồn.
Khó khăn lắm chúng tôi mới bắt được một chiếc xe hàng lớn, sau khi mặc cả xong giá tiền, cả ba liền trèo lên xe. Tôi ngồi ở thùng xe phía sau, để hai người bọn Mũ Bò ngồi trên mà tiếp tục thân mật. Xe đi qua hẻm núi Tinh Tinh, rời khỏi Cam Túc, tiến vào địa phận Tân Cương. Đêm xuống, nhiệt độ trên sa mạc giảm xuống nhanh chóng, toàn thân tôi lạnh cóng, thùng xe thì trống rỗng, chỉ có mấy tấm vải bạt rách nát, đành vơ vào quấn quanh mình cho đỡ rét. Cảnh vật ban đêm thật buồn chán, nhưng tôi sợ lạnh nên không dám ngủ, đành ngồi đần người ra ngắm sao trên trời, nghĩ ngợi lung tung, không hiểu sao lại nghĩ đến chiếc kính thiên văn của Lông Mi. Lúc tôi sắp bị lạnh cóng lại thì xe hàng cuối cùng cũng chịu dừng lại trước cửa một nhà trọ ven đường.
Ngôi nhà này rất sơ sài. Tường bao đều dùng đá chát xi măng đắp thành, nóc nhà là mấy thanh gỗ thô sần sùi gối lại với nhau, bên trên trải một lớp cỏ lác thật dày, thân cỏ rất cứng. Giữa nhà còn có chiếc cột gỗ sần sùi, to như cái chậu để đỡ cho nóc nhà.
Chủ quán đốt lửa, tôi phải ngồi sưởi một lúc lâu mới thấy ấm áp trở lại.
Đồ ăn rất phong phú: mấy chiếc bánh nướng, một chậu cơm bốc, bánh tháp, thịt bò xào khoai tây cà chua, mì Tân Cương. Chúng tôi ăn ngấu nghiến như hổ đói, chỉ một lát đã tiêu diệt sạch sẽ cả bàn thức ăn đầy ự. Ăn xong, chủ quán dẫn chúng tôi về phòng ngủ. Giường ghép kiểu phía Bắc, bên dưới xếp đá, rồi phủ thêm một lớp cỏ, trải thảm lên trên vậy là thành giường. Ông chủ để lại mấy người đàn ông chúng tôi trong phòng rồi dẫn Mũ Bò qua phòng dành cho nữ. Được một lát thì chợt nghe có tiếng kêu thảm thiết vang lên. Mũ Bò chạy vụt ra ôm chặt lấy anh chàng khảo cổ, sắc mặt trắng bệch cắt không ra giọt máu. Mấy người cùng chạy qua xem, thì thấy ở góc giường có một lỗ lớn, một con chuột to tướng thò đầu ra nhìn chúng tôi, rồi quẫy đuôi một cái, lừ lừ chui vào lỗ. Cô nàng sống chết thế nào cũng không dám ngủ. Anh chàng khảo cổ đành dẫn cô nàng ra ngoài cắm trại, còn tôi và tài xế thì ngủ trong phòng.
Sau khi trừ đi nạn chuột, và cả những con côn trùng nhỏ lương thiện không cắn người nấp trong tấm nệm cỏ, căn phòng và chiếc giường lại tiếp tục thực hiện công năng của nó. Không gian thô lậu sơ sài mang theo vẻ thần bí lạ thường, làm tôi chợt nhớ đến bài hát “Hotel California”. Một lúc sau thì tiếng ngáy khò khè như lợn rống của tay lái xe vang lên. Tâm cơ máy động, tôi bèn khẽ huýt sáo theo điệu nhạc “Hotel California”, tay tài xế liền yên lặng trở lại một cách thần kỳ. Huýt sáo được hết bài thì miệng đã mỏi nhừ, không khép lại được. Nằm mãi mà chẳng thấy buồn ngủ, tôi bèn lấy cuốn “Con người và mặt đất” của Antonie de saintex puperyra, bật ngọn đèn nhỏ ở đầu giường ra đọc. Trong sách có một câu như thế này:
“Kiến thức mà mặt đất dạy chúng ta còn sâu rộng hơn bất cứ sách vở nào.”
Không nén nổi cảm xúc dâng trào trong lòng, tôi đứng dậy mặc quần áo, đi ra ngoài.
Sa mạc Go bi về đêm hoang vắng tiêu điều còn hơn ban ngày. Chỉ có những ngôi sao đang vô tư dâng hiến chút ánh sáng nhỏ nhoi chỉ đủ để mang lại tín niệm cho con người, nhưng lại chẳng hề có chút ý nghĩa gì với trái đất này cả!
Chợt có một ý nghĩ đên rồ, muốn đi, đi mãi về phía đó.
Có điều lý trí tôi vẫn còn đủ tỉnh táo. Đi về phòng, bật máy nghe nhạc lên nghe mấy bài của Egima, rồi chìm vào giấc ngủ.
Đối với tôi, rốt cuộc ai mới là “mặt đất” đây?
Buổi trưa hôm đó, xe hàng đến một thị trấn nhỏ hoang vu, dừng lại để thêm nước.
Thị trấn này rất nhỏ, chỉ có mấy gian nhà đá, nằm rải rác trên sa mạc mênh mông, lưa thưa lác thác, nhìn có cảm giác như là các núi lửa trên bề mặt mặt trăng vậy. Ở sa mạc miền Tây này giờ chỉ còn rất ít những thị trấn như vậy.
Tay lái xe xách thùng nước nhảy xuống trước. Chúng tôi cũng xuống theo, vươn tay vươn chân cho giãn gân cốt, rồi đi dạo một vòng xung quanh thị trấn. Thị trấn này có một quán ăn nhỏ, bên trong có một ông lão người Duy cởi trần, tay phe phẩy quạt, mắt lim dim gật gù. Gần đó là một xưởng sửa xe, bác thợ cả đội cái mũ nhỏ của người tộc Duy đang lắp lốp xe, thi thoảng lại ngước mắt lên nhìn chúng tôi. Cạnh xưởng xe là một quán trọ nhỏ, một người đàn bà đầu đội khăn thêu đang bế con ngồi trước cửa, ánh mắt thờ ơ tuyệt vọng. Bên cạnh bàn bi a cách đó không xa lắm, có hai thanh niên người Duy đang ngắm nghía đường cơ.
Một ông già người Duy đang ngồi xếp bằng trên chiếc ghế dài ven đường, nắm mắt chơi đàn Donbura, âm thanh cót ca cót két khó nghe truyền đi khắp thị trấn nhỏ. Xung quanh cát bụi bay tứ tung, rơi cả vào cái bát to để bên cạnh ông già. Tôi ngồi xổm cạnh đó nghe ông chơi đàn, còn Mũ Bò thì kéo anh chàng khảo cổ đi ra chỗ bàn bi a.
Ông già đàn một lúc rồi dừng lại lấy thuốc ra hút, cầm bát nước lên, thổi bay cát bụi bên nổi bên trên đi, rồi cẩn thận uống mấy ngụm, sau đó đặt bát xuống, súc súc miệng, đưa mắt nhìn tôi cười cười, đưa cây đàn Donbura cho tôi. Tôi đón lấy, thử chơi như chơi đàn ghi ta, định đánh một bài “A La Mộc Hãn” nhưng quả thực đàn ghi ta và Donbura là hai loại nhạc cụ hoàn toàn khác nhau, muốn điều âm cũng không biết làm thế nào. Tôi đành trả lại đàn cho ông già. Không ngờ ông già như đọc được ý nghĩ của tôi, bật ngón tay chơi ngay bài “A La Mộc Hãn”, tất nhiên là vẫn cực kỳ khó nghe. Ông già nhìn tôi bật cười khanh khách, tôi cũng cười cười đáp lại, vừa cười vừa đếm xem trong miệng ông còn lại mấy chiếc răng.
Đứng dậy sang chỗ bàn bi a.
Anh chàng khảo cổ đưa cây cơ cho tôi. Mặt bàn mấp mô, rất khó đánh. Tôi cúi sát người chọc một gậy. Cậu thanh niên tộc Duy đánh một quả bi màu vào lỗ, nhìn tôi cười cười, dáng vẻ rất thật thà, rồi lại đánh một cơ nữa, bi không lọt lỗ. Đột nhiên một trận gió nổi lên làm cát bụi bay tứ tán. Tôi cầm lấy cây cơ, cúi người đánh tọt một quả bi khoang vào lỗ, rồi lại đánh thêm một quả nữa lọt lỗ, điều chỉnh hô hấp, đẩy quả bi khó nhất ở góc bàn vào lỗ, bi màu trắng đập vào mép bàn rồi đụng vào quả bi khoang cuối cùng, đẩy nó đến sát miệng lỗ. Tôi mỉm cười đưa cây cơ cho Mũ Bò. Cô nàng ngoáy mông đi lại gần bàn bi a, động tác rất gợi tình, nhẹ nhàng chọc nhẹ đầu cơ vào bi trắng, đẩy quả bi khoang cuối cùng chầm chậm rơi vào lỗ. Mũ Bò ngoáy ngoáy mông một cách khoa trương, làm mọi người ở đó đều cười ồ lên.
Tôi với anh chàng khảo cổ ngồi cạnh đó, lặng lẽ ngắm Mũ Bò và hai cậu thanh niên người Duy chơi bi a. Hai cậu chàng mặc áo sơ mi hoa văn, đội chiếc mũ nhỏ của người dân tộc, đi giày trắng, khiêm tốn hồn hậu, thậm chí thật thà đến khiến chúng tôi cảm thấy hơi đau lòng.
- Tuổi trẻ thật tuyệt, đáng tiếc lại bị chôn vùi ở chốn sa mạc hoang vu này.
Anh chàng khảo cổ thở dài nói.
- Cũng chưa chắc, có lẽ họ đang than vãn cho tuổi trẻ bị chôn vùi chốn thành thị ồn ào náo nhiệt của chúng ta cũng nên! Hoàn cảnh khác nhau thì quan điểm sống cũng khác nhau mà!
Tôi nói.
- Hoàn cảnh khác nhau thì quan điểm sống cũng khác nhau? Câu nói này có ý nghĩa đấy!
Anh ta vỗ nhẹ lên vai tôi, cười cười.
Có lẽ đã lâu lắm rồi hai cậu thanh niên người Duy chưa nhìn thấy cô gái nào ăn mặc sexy như Mũ Bò, thỉnh thoảng lại thấy hai cậu chàng len lén nhìn trộm cặp giò trắng muốt của cô nàng. Mũ Bò cũng nhận ra, bèn dứt khoát bò cả người lên bàn để ngắm đường cơ, để hở cả quần trong ra ngoài.
- Đấy gọi là dùng sức của tuổi trẻ để góp phần xây dựng biên cương!
Lúc trèo lên xe, Mũ Bò hào hứng giải thích.
Tôi chợt nhớ lại cảnh xe tăng Liên Xô tiến vào Tiệp Khắc, các cô gái Praha đều mặc váy ngắn đến độ làm người ta phát hãi, chặn trước mũi xe tăng, ôm lấy những người đàn ông Tiệp chưa bao giờ gặp mặt, vén váy lên hôn nhau cuồng nhiệt, cố ý kích thích sự ham muốn của các chiến sĩ Liên Xô, làm cho họ mất đi ý chí chiến đấu.
Tình dục là một loại vũ khí.
Đáng tiếc là ở cái thành phố nơi tôi đang sống kia, thứ vũ khí đó đã bị lợi dụng một cách quá đà.
Chẳng mấy chốc, thị trấn nhỏ cùng tiếng đàn Donbura thân thiết mà khó nghe của ông già và tuổi xuân của hai chàng thanh niên người Duy.
Chiều tối hôm ấy, chúng tôi đến Thổ Lỗ Phồn.
Lái xe phải tiếp tục lên đường đến Karamay, nhiệt tình ôm chặt chúng tôi chào tạm biệt. Tôi, Mũ Bò và anh chàng khảo cổ đổi xe đi tới thành cổ Cao Xương. Những chiếc xe lừa trang trí sặc sỡ chạy qua chạy lại trong khu phong cảnh, trông rất tức cười. Chúng tôi ngồi ở nơi Đường Huyền Trang giảng kinh một lúc, cuối cùng cũng chịu không nổi sự ồn ào náo nhiệt, bèn lặng lẽ bỏ đi. Tìm đến thành cổ Giao Hà bên hai dòng sông. Nơi được bảo tồn khá hoàn hảo, ít nhất là cũng không có xe lừa. Ba người chúng tôi đi một vòng xem hết quần thể tháp, khu dâ